Thực trạng đau của người bệnh sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại khoa chấn thương Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2019

TAY - TÂM - TRÍ - TỰ HÀO
PDF Download: 135 View: 144

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Mai, A. D., Lê, T. T., Nguyễn, M. D., Vũ, T. L., & Võ, T. T. H. (2019). Thực trạng đau của người bệnh sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại khoa chấn thương Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2019. Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng, 2(3(2), 61–68. Truy vấn từ https://jns.vn/index.php/journal/article/view/185

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá mức độ đau của người bệnh trong 72 giờ đầu sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại khoa Chấn thương Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2019.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 11/2018 đến tháng 6/2019 trên 117 người bệnh phẫu thuật kết hợp xương chi dưới (xương đùi, cổ xương đùi, mâm chày, xương cẳng chân) tại Khoa chấn thương Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Các đối tượng được phỏng vấn trực tiếp bằng 4 bộ câu hỏi thiết kế sẵn gồm19 câu.

Kết quả: Nam giới chiếm 57.26%, nữ giới chiếm 42.74%.Tuổi trung bình của người bệnh là 53.68 ± 16.05, nhỏ nhất là 18 tuổi, lớn nhất là 88 tuổi.Nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp và công nhân lần lượt là 43.59% và 35.04%. Người bệnh có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 46.15%. Đa số người bệnh đã kết hôn 76.07%. Tổng điểm đau trung bình sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới trong 72 giờ đầu lần lượt là (27,21; 23,24; 18,79).

Kết luận: Tổng điểm đau trung bình của người bệnh sau phẫu thuật kêt hợp xương chi dưới (xương đùi, cổ xương đùi, mâm chày và xương cẳng chân) đau nhiều nhất vào 24 giờ đầu, đau giảm dần vào ngày thứ 2 và đau ít hơn ở ngày thứ 3.

Từ khóa

Fracture of extremity bone, post surgical pain, patients. Gãy xương chi dưới, đau sau phẫu thuật, người bệnh.
PDF Download: 135 View: 144
Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại 4.0 International Giấy phép .

Bản quyền (c) 2019 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng