https://jns.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2026-11-03T00:00:00+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1349Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về báo cáo sự cố y khoa của điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City2026-09-21T00:46:38+00:00Thị Thu Hường Nguyễnv.huongntt56@vinmec.comThị Ngọc Lệ Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hoa Bùinoemail@gmail.comThị Minh Phương Phínoemail@gmail.comThị Lài Đoànnoemail@gmail.comThị Duyên Lênoemail@gmail.comThị Thu Lênoemail@gmail.comThị Thùy Trang Phạmnoemail@gmail.comThị Trang Huỳnhnoemail@gmail.comThị Hồng Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về báo cáo sự cố y khoa của điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 254 điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền đánh giá kiến thức và thái độ về báo cáo sự cố y khoa. Mối liên quan giữa một số đặc điểm của đối tượng với kiến thức và thái độ được xác định bằng OR, khoảng tin cậy 95% (95%CI) và kiểm định thống kê với mức ý nghĩa p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Trong 254 điều dưỡng, hộ sinh tham gia nghiên cứu, 65,4% có kiến thức đạt và 92,5% có thái độ tốt về báo cáo sự cố y khoa. Nhóm chăm sóc ≥ 5 người bệnh/ngày có kiến thức đạt cao hơn nhóm chăm sóc < 5 người bệnh/ngày (OR = 2,4; 95%CI: 1,4-4,1; p = 0,001). Nữ giới có thái độ tốt cao hơn nam giới (OR = 3,6; 95%CI: 1,2-11,1; p = 0,016).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Phần lớn điều dưỡng, hộ sinh có thái độ tốt về báo cáo sự cố y khoa, tuy nhiên tỷ lệ có kiến thức đạt còn hạn chế. Số người bệnh chăm sóc/ngày có liên quan với kiến thức, trong khi giới tính có liên quan với thái độ về báo cáo sự cố y khoa. Bệnh viện cần tiếp tục củng cố kiến thức về báo cáo sự cố và duy trì môi trường khuyến khích báo cáo, học hỏi từ sự cố.</p>2026-10-26T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1348Kiến thức về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang 2026-09-24T08:49:22+00:00Thị Giang Nguyễnv.giangnt1@vinmec.comVăn Huy Nguyễnnoemail@gmail.comThị Vân Anh Nguyễnnoemail@gmail.comThị Nga Lênoemail@gmail.comThị Hoa Lênoemail@gmail.comThị Thanh Huyền Trầnnoemail@gmail.comThị Thúy Nguyễnnoemail@gmail.comThị Quỳnh Nguyễnnoemail@gmail.comThị Thùy Trang Phạmnoemail@gmail.comThị Thu Quỳnh Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng kiến thức của điều dưỡng về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 255 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang. Kiến thức được đánh giá bằng bộ câu hỏi gồm 36 câu thuộc 5 lĩnh vực: kiến thức về nhiễm khuẩn bệnh viện, phòng ngừa cách ly, vệ sinh tay, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, phòng lây nhiễm trong tiêm và xử trí phơi nhiễm nghề nghiệp. Số liệu được phân tích bằng SPSS 22.0; mối liên quan được xác định bằng OR và khoảng tin cậy 95%, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức chung đạt về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện là 78,8%. Tỷ lệ kiến thức đạt cao nhất ở nội dung sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân (82,0%), tiếp theo là phòng ngừa cách ly (81,6%); thấp nhất ở kiến thức về nhiễm khuẩn bệnh viện (69,8%). Tỷ lệ kiến thức đạt về vệ sinh tay và phòng lây nhiễm trong tiêm, xử trí phơi nhiễm nghề nghiệp lần lượt là 73,3% và 73,7%. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác (p > 0,05). Điều dưỡng đã được đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn có odds kiến thức đạt cao gấp 11,20 lần nhóm chưa được đào tạo (OR = 11,20; 95% CI: 3,75-33,49; p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Đa số điều dưỡng có kiến thức đạt về phòng nhiễm khuẩn bệnh viện, tuy nhiên kiến thức chưa đồng đều giữa các lĩnh vực. Đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn có liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức đạt. Bệnh viện cần duy trì đào tạo định kỳ, ưu tiên kiến thức về nhiễm khuẩn bệnh viện, vệ sinh tay, phòng lây nhiễm trong tiêm và xử trí phơi nhiễm nghề nghiệp, đồng thời đánh giá kiến thức trước và sau đào tạo.</p>2026-10-26T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1390Trải nghiệm của người bệnh và điều dưỡng về chăm sóc người bệnh ung thư điều trị hóa chất tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City2026-09-11T09:43:33+00:00Thị Mỹ Duyên Nguyễnnguyenmyduyen8686@gmail.comThị Thúy Đàonoemail@gmail.comThị Thu Nguyễnnoemail@gmail.comThi Duyên Nguyễnnoemail@gmail.comDuy Nam Hànoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Tìm hiểu trải nghiệm của người bệnh và điều dưỡng về các yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc người bệnh ung thư điều trị hóa chất tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu định tính được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, gồm 16 người tham gia với 8 người bệnh ung thư điều trị hóa chất và 8 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn sâu cá nhân bán cấu trúc.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Phân tích trải nghiệm của người bệnh và điều dưỡng xác định bốn chủ đề chính: (1) môi trường và sự hỗ trợ chăm sóc; (2) gánh nặng triệu chứng và tâm lý; (3) rào cản trong giao tiếp và cung cấp thông tin; và (4) khoảng cách giữa kỳ vọng và trải nghiệm chăm sóc. Người bệnh đánh giá tích cực môi trường điều trị sạch sẽ, yên tĩnh và sự hỗ trợ của điều dưỡng. Tuy nhiên, buồn nôn, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ và lo âu làm hạn chế khả năng nghỉ ngơi, giao tiếp và tiếp nhận thông tin. Khối lượng công việc của điều dưỡng và thời gian tương tác hạn chế tạo ra những rào cản trong giao tiếp và tư vấn. Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa mức độ quan tâm người bệnh kỳ vọng và sự chăm sóc họ cảm nhận được góp phần định hình trải nghiệm chăm sóc.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Trải nghiệm và kết quả chăm sóc người bệnh ung thư điều trị hóa chất liên quan đến sự tương tác giữa môi trường và hỗ trợ chăm sóc, gánh nặng triệu chứng và tâm lý, giao tiếp- cung cấp thông tin và mức độ đáp ứng kỳ vọng của người bệnh. Cần tăng cường kiểm soát triệu chứng, hỗ trợ tâm lý, cá thể hóa giao tiếp và cung cấp thông tin, đồng thời bố trí nguồn lực điều dưỡng phù hợp nhằm nâng cao trải nghiệm và chất lượng chăm sóc.</p>2026-10-27T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1344Kiến thức, thực hành tự khám vú và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ trưởng thành: Nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 20252026-09-25T02:39:09+00:00Thị Vân Lêvanle26984@gmail.comThị Minh Phương Phínoemail@gmail.comThị Trang Huỳnhnoemail@gmail.comThị Lài Đoànnoemail@gmail.comThị Duyên Lênoemail@gmail.comThị Hoa Bùinoemail@gmail.comThị Thu Phạmnoemail@gmail.comThị Thu Lênoemail@gmail.comThị Hoàng Phạmnoemail@gmail.comThị Thắm Nguyễnnoemail@gmail.comQuang Huy Trầnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: (1) Mô tả kiến thức, thực hành tự khám vú và rào cản thực hành tự khám vú; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tự khám vú ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng (281 phụ nữ khảo sát bằng bảng hỏi) và định tính (10 phỏng vấn sâu). Dữ liệu định lượng được xử lý bằng SPSS 27.0; dữ liệu định tính phân tích theo phương pháp phân tích nội dung quy ước.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Một nửa phụ nữ có kiến thức đạt chuẩn (50,2%), song chỉ 23,5% thực hành đạt chuẩn. Lý do không thực hành gồm: cho rằng không cần thiết (69,6%), lo sợ phát hiện bệnh (48,7%), thiếu kỹ năng (30%). Sự khuyến khích từ gia đình có liên quan rõ rệt với khả năng thực hành đạt chuẩn cao hơn nhiều (OR = 29,43), dù khoảng tin cậy rất rộng do số quan sát nhỏ ở nhóm không được ủng hộ. Nhân viên y tế là nguồn thông tin chính (63,3%); nhóm chỉ tiếp cận các nguồn khác (bạn bè, gia đình, truyền thông, mạng xã hội) có tỷ lệ thực hành đạt chuẩn thấp hơn rõ rệt.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Khoảng trống giữa kiến thức và thực hành tự khám vú vẫn hiện hữu, bắt nguồn từ rào cản tâm lý, thiếu hướng dẫn và môi trường hỗ trợ. Nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng tại các cơ sở khám vú, có tiềm năng đóng vai trò quan trọng trong giáo dục kỹ năng, tư vấn tâm lý và tạo môi trường khuyến khích, góp phần nâng cao hiệu quả dự phòng ung thư vú.</p>2026-10-27T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1364Nhận thức của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Thái Bình về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thực hành lâm sàng2026-08-24T02:55:46+00:00Thị Vân Trầnvantran206@gmail.comThị Hồng Lêlethihong6591@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả nhận thức của sinh viên điều dưỡng về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thực hành lâm sàng và một số yếu tố liên quan tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 225 sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Thái Bình. Số liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và các phép kiểm định t-test và ANOVA để xác định các yếu tố liên quan; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Có 30,7% sinh viên có nhận thức về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thực hành lâm sàng ở mức cao, điểm trung bình nhận thức là 3,33 ± 0,55. Nhận thức có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giới tính, kỹ năng công nghệ thông tin, hiểu biết về AI trong chăm sóc sức khỏe, số lần sử dụng AI mỗi tuần, sự sẵn sàng sử dụng AI hỗ trợ công việc điều dưỡng và sự sẵn sàng học thêm kỹ năng AI (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nhận thức của sinh viên điều dưỡng về ứng dụng AI trong thực hành lâm sàng chủ yếu ở mức vừa, với 30,7% đạt mức cao. Nhận thức có mối liên quan với giới tính, kỹ năng công nghệ thông tin, hiểu biết về AI trong chăm sóc sức khỏe và mức độ tiếp cận, sẵn sàng sử dụng AI. Kết quả cho thấy cần tăng cường đào tạo có hệ thống về AI trong chương trình đào tạo điều dưỡng.</p>2026-11-02T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1186Khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh viêm tụy cấp điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 2026-06-11T15:32:50+00:00Thị Nhàn Vũmrsvuthinhan1084@gmail.comVăn Hà Lanoemail@gmail.comQuang Đậu Lênoemail@gmail.comThị Hạnh Trầnnoemail@gmail.comNgọc Chiến Luânnoemail@gmail.comThu Phương Trịnhnoemail@gmail.comThanh Hà Lêlethanhha.hvqy@gmail.comTuấn Anh Lươngnoemail@gmail.comThị Loan Hoàngnoemail@gmail.comThị Mai Hương Đỗnoemail@gmail.comThị Huyền Lênoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát tình trạng dinh dưỡng và phân tích một số yếu tố liên quan ở người bệnh viêm tụy cấp điều trị tại khoa Cấp cứu tiêu hóa - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang trên 90 người bệnh viêm tuỵ cấp đang điều trị trong khoảng thời gian từ tháng 6/2025 đến tháng 9/2025. Tình trạng dinh dưỡng được xác định thông qua thang điểm SGA kết hợp với chỉ số khối cơ thể (BMI).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Phân loại theo thang điểm SGA cho thấy tỷ lệ có tình trạng dinh dưỡng bình thường (SGA-A) là 34,4%. Trong khi đó, nhóm có nguy cơ suy dinh dưỡng mức độ trung bình (SGA-B) chiếm 53,3% và nhóm suy dinh dưỡng nặng (SGA-C) chiếm 12,3%. Tỷ lệ người bệnh có suy dinh dưỡng theo BMI chiếm 35,5%, thừa cân béo phì chiếm 19,0%. Có mối liên quan giữa nguy cơ suy dinh dưỡng đánh giá theo thang điểm SGA với giới, các bệnh đồng mắc và hút thuốc lá. Nam giới bị viêm tuỵ cấp có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn 2,2 lần so với nữ giới. Những đối tượng mắc > 2 bệnh có nguy cơ cao hơn 1,5 lần so với nhóm ≤ 2 bệnh. Nhóm người bệnh có thói quen hút thuốc lá ghi nhận nguy cơ cao hơn khoảng 2,3 lần so với nhóm không hút thuốc (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Cần tiến hành đánh giá và sàng lọc tình trạng dinh dưỡng ngay từ thời điểm nhập viện đối với tất cả người bệnh viêm tụy cấp, nhằm kịp thời triển khai các biện pháp can thiệp dinh dưỡng và góp phần giảm thiểu nguy cơ biến chứng.</p>2026-11-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng