https://jns.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2026-08-14T02:02:10+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1138Thực trạng kiến thức và một số yếu tố liên quan về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại Thành phố Nam Định2026-04-20T07:30:03+00:00Thị Dung Nguyễnnguyenthidung@ndun.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức về sử dụng kháng sinh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thành phố Nam Định năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ 12/2024 đến 6/2025 trên 400 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 4 trường mầm non công lập ở thành phố Nam Định. Công cụ là bộ câu hỏi tự điền gồm 15 câu đánh giá kiến thức về sử dụng kháng sinh, xây dựng dựa trên bộ công cụ của M. Yu và cộng sự, có tham khảo Quyết định số 708/QĐ-BYT năm 2015 và được thẩm định nội dung bởi chuyên gia. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 20.0, sử dụng thống kê mô tả và hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình là 7,43 ± 1,92/10. Có 66,8% bà mẹ có kiến thức đạt. Tỷ lệ trả lời đúng cao ở câu hỏi về liều dùng cho trẻ (92,5%) và tác hại khi dùng sai (87,5%). Tuy nhiên, 48,2% nhầm lẫn kháng sinh điều trị virus và 55,8% cho rằng kháng sinh không gây tác dụng phụ. Kiến thức đạt của bà mẹ có mối liên quan với trình độ học vấn trên trung học phổ thông, tiền sử không sử dụng kháng sinh cho con trong 6 tháng qua, và việc tiếp cận thông tin từ cán bộ y tế (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phần lớn bà mẹ có kiến thức đúng về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi, song vẫn tồn tại nhiều hiểu lầm như kháng sinh điều trị được bệnh do virus và không gây tác dụng phụ. Cần tăng cường truyền thông – giáo dục sức khỏe, ưu tiên nhóm bà mẹ có học vấn thấp và có thói quen tự ý dùng kháng sinh.</p>2026-06-26T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1190Đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc ARV và một số yếu tố liên quan ở người bệnh nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 20252026-03-17T09:02:32+00:00Thị Hồng Tiên Manoemail@gmail.comThị Liên Hàlien.hathi@phenikaa-uni.edu.vn<p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và xác định một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị ARV ở người bệnh nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 210 người bệnh nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú B20 – Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 4 - 8/2025. Người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi gồm 6 phần tại phòng khám về các nội dung thực hành tuân thủ điều trị ARV.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV chung đạt 86,2%. Hai yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV bao gồm: sử dụng ma túy (OR = 6,23; 95% CI: 2,19 – 17,74; p = 0,001) và sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội (OR = 3,78; 95% CI: 1,08 – 13,22; p = 0,037).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cần tập trung nghiên cứu, tư vấn – giáo dục sức khỏe cho nhóm nguy cơ cao và hoàn thiện chính sách hỗ trợ để nâng cao hiệu quả tuân thủ điều trị. </p>2026-06-26T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1095Thực trạng sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng năm 20252025-09-23T10:00:19+00:00Thị Hương Phanphanhuongdkqthp@gmail.comMinh Sinh Đỗnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 đến tháng5 năm 2025 trên 385 người bệnh điều trị nội trú, sử dụng bộ câu hỏi khảo sát hài lòng do Bộ Y tế ban hành năm 2024.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Trong 385 người bệnh có 57,1% là nữ. Độ tuổi 30-59 chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 51,9% và có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống chiếm 53%. Tỷ lệ người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện hài lòng đạt 96,4% với điểm hài lòng trung bình chung là 4,52/5. Trong đó, người bệnh hài lòng cao nhất với thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế (97,7%), trong khi khả năng tiếp cận được đánh giá thấp nhất (89,9%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Sự hài lòng của người bệnh tại bệnh viện nhìn chung ở mức khá cao, song khả năng tiếp cận cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ toàn diện.</p>2026-06-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1319Nhận thức của nhân viên y tế về các rào cản đối với vận động sớm cho người bệnh tại các khoa chăm sóc đặc biệt: Nghiên cứu đa trung tâm trong Hệ thống Y tế Vinmec2026-06-16T04:09:35+00:00Mạnh Luân Nguyễnmanhluan884@gmail.comThị Hoa Huyền Nguyễnnoemail@gmail.comHồng Thu Bếnoemail@gmail.comThanh Trà Nguyễnnoemail@gmail.comThị Vân Anh Đặngnoemail@gmail.comThị Thùy Dung Trầnnoemail@gmail.comVăn Bảy Nguyễnnoemail@gmail.comĐức Tiến Phạmnoemail@gmail.comTiến Hà Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả nhận thức về các rào cản đối với vận động sớm cho người bệnh của nhân viên y tế tại một số bệnh viện thuộc hệ thống y tế Vinmec năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 12/2025 đến tháng 05/2026 trên 192 nhân viên y tế (bác sĩ hồi sức cấp cứu, điều dưỡng hồi sức cấp cứu, bác sĩ phục hồi chức năng và kỹ thuật viên phục hồi chức năng) tại 8 bệnh viện thuộc hệ thống y tế Vinmec. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi PMABS-ICU đã được hiệu chỉnh và kiểm định độ tin cậy. Các rào cản được đánh giá theo ba lĩnh vực: kiến thức, thái độ và hành vi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhân viên y tế đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng họ có thể xác định người bệnh cần can thiệp vận động trị liệu và hoạt động trị liệu lần lượt là 61,5% và 64,6%; 74,0% cho biết sẽ hướng dẫn người bệnh tập luyện khi không có chống chỉ định. Có 77,1% nhân viên y tế tin rằng vận động sớm ít nhất một lần mỗi ngày giúp cải thiện kết quả điều trị và 76,0% không cho rằng vận động sớm gây hại cho người bệnh. Đa số đối tượng nhận được sự hỗ trợ từ lãnh đạo (72,9%), thường xuyên thảo luận khả năng vận động của người bệnh trong nhóm chăm sóc (71,3%) và không xem thiếu trang thiết bị (63,6%) hoặc thiếu thời gian (57,8%) là rào cản chính. Điểm trung vị rào cản tổng thể là 26,9 (IQR: 21,5–36,9), trong đó rào cản thái độ có điểm cao nhất (27,8; IQR: 20,0–39,4).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc hệ thống Vinmec có nhận thức tương đối tốt về vận động sớm cho người bệnh. Rào cản được ghi nhận chủ yếu liên quan đến thái độ và hành vi hơn là kiến thức, đặc biệt là cảm nhận về khối lượng công việc và sự khác biệt trong nhận thức giữa các cá nhân.</p>2026-07-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1243Thực hành chăm sóc catheter tĩnh mạch trung tâm của điều dưỡng và các yếu tố liên quan tại các khoa Hồi sức, Bệnh viện Đà Nẵng2026-03-16T03:33:02+00:00Thị Thu Huyền Maimaihuyen716@gmail.comHiếu Trung ĐoànTsbacsitrung@gmail.comVăn Huy Nguyễnnoemail@gmail.comThị Phúc Nguyễnnoemail@gmail.comThanh Tùng Lêtungpcnd@ndun.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá thực hành chăm sóc catheter tĩnh mạch trung tâm của điều dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan tại các khoa Hồi sức Bệnh viện Đà Nẵng năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 114 điều dưỡng tại các khoa Hồi sức Bệnh viện Đà Nẵng từ 2/2025 đến 7/2025. Thực hành của điều dưỡng được đánh giá bằng bảng kiểm 14 bước xây dựng dựa trên quy định của Bệnh viện Đà Nẵng và thông tư Bộ Y tế.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 69,32% điều dưỡng đạt yêu cầu về thực hành chăm sóc catheter tĩnh mạch trung tâm, với điểm trung bình 62,68 ± 8,37. Phân tích đơn biến cho thấy kinh nghiệm làm việc, tập huấn và mức độ hỗ trợ từ quản lý có liên quan đến thực hành (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, điều dưỡng có thời gian làm việc dưới 5 năm kinh nghiệm có nguy cơ thực hành không đạt cao hơn 9,97 lần so với nhóm có thời gian làm việc trên 5 năm kinh nghiệm (OR = 9,97; KTC 95%: 2,85–34,85; p < 0,001). Điều dưỡng không được tập huấn có nguy cơ thực hành không đạt cao hơn so với nhóm đã được tập huấn (OR = 0,12; KTC 95%: 0,02–0,68; p = 0,017).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Thực hành chăm sóc catheter tĩnh mạch trung tâm của điều dưỡng ở mức khá. Kinh nghiệm làm việc và tập huấn là các yếu tố liên quan độc lập, cho thấy cần tăng cường đào tạo và giám sát thực hành, đặc biệt đối với điều dưỡng có ít kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và phòng ngừa nhiễm khuẩn liên quan catheter.</p>2026-07-14T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1338Tình trạng dinh dưỡng, chất lượng cuộc sống ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên năm 20262026-07-08T07:26:34+00:00Thị Việt Hà Đỗdovietha250785@gmail.comThị Nguyệt Nguyễnnoemail@gmail.comThanh Vân Đỗnoemail@gmail.comCông Khẩn Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả tình trạng dinh dưỡng và mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 277 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số BMI và thông qua tỷ lệ eo/hông (WHR); chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng bộ câu hỏi Asian Diabetes Quality of Life (AsianDQOL) phiên bản Tiếng Việt.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Có 65,7% người bệnh có BMI bình thường, 30,7% thừa cân/béo phì và 3,6% thiếu năng lượng trường diễn; Theo phân loại tình trạng dinh dưỡng dựa trên WHR, nhóm không nguy hiểm chiếm tỷ lệ cao nhất (39,4%), tiếp theo là nhóm nguy cơ thấp (31,0%) và nhóm nguy cơ trung bình (25,6%), trong khi nhóm nguy cơ cao chiếm tỷ lệ thấp nhất (4,0%) Điểm chất lượng cuộc sống chung đạt 3,02 ± 0,45/5; 75,8% người bệnh có chất lượng cuộc sống mức khá và 18,8% mức tốt. Sức khỏe tinh thần có điểm cao nhất, trong khi mối quan hệ cá nhân có điểm thấp nhất.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên nhìn chung có tình trạng dinh dưỡng tương đối tốt và chất lượng cuộc sống ở mức khá. Tuy nhiên, cần tăng cường quản lý dinh dưỡng và các biện pháp hỗ trợ nhằm cải thiện các khía cạnh còn hạn chế của chất lượng cuộc sống, đặc biệt là mối quan hệ cá nhân.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1301Kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc mắt liên quan đến bệnh glôcôm của người bệnh từ 40 tuổi trở lên đến khám tại Bệnh viện Mắt Hà Nội năm 20242026-05-21T14:27:02+00:00Thị Hằng Nguyễnhuong.phamthithu@phenikaa-uni.edu.vnThị Thu Hương Phạmhuong.phamthithu@phenikaa-uni.edu.vnBá Tâm Nguyễnnguyenbatam@gmail.com<p style="font-weight: 400;"><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc mắt liên quan đến bệnh glôcôm của người bệnh từ 40 tuổi trở lên đến khám tại Bệnh viện Mắt Hà Nội năm 2024; đồng thời phân tích một số yếu tố liên quan.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 376 người bệnh từ 40 tuổi trở lên đến khám tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở Nguyễn Viết Xuân, từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2024. Mẫu được chọn thuận tiện. Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp gồm các nhóm biến về đặc điểm chung, đặc điểm liên quan đến glôcôm, sử dụng dịch vụ chăm sóc mắt, kiến thức, thái độ và thực hành. Kiến thức được xem là tốt khi đạt ≥ 21/28 điểm; thái độ tốt khi đạt ≥ 45 điểm; thực hành tốt khi đạt ≥ 14 điểm. Số liệu được nhập bằng EpiData 3.1 và phân tích bằng SPSS 22.0 bằng thống kê mô tả, kiểm định χ²/Fisher exact và hồi quy logistic đa biến với mức ý nghĩa p < 0,05.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 64,24 ± 10,55; nữ chiếm 55,6%; 18,9% người bệnh đã được chẩn đoán glôcôm. Chỉ 33,2% từng nghe về bệnh glôcôm và 12,2% từng được truyền thông trực tiếp về bệnh này. Tỷ lệ kiến thức tốt, thái độ tốt và thực hành tốt lần lượt là 13,6%; 69,9% và 3,5%. Một số nội dung còn hạn chế gồm: biết glôcôm có tính di truyền (34,8%), biết corticoid có thể gây biến chứng mắt (7,7%), rửa tay trước khi tra thuốc (46,5%) và kiểm tra thuốc trước khi mua (27,4%). Hồi quy logistic đa biến cho thấy người chưa được chẩn đoán glôcôm có nguy cơ kiến thức chưa tốt cao hơn (OR = 3,74; KTC 95%: 1,74–8,04). Thái độ tốt liên quan với trình độ học vấn cao hơn, nghề nghiệp là công nhân và kiến thức tốt; trong khi không được truyền thông về bệnh mắt làm giảm khả năng có thái độ tốt. Thực hành tốt giảm rõ theo tuổi và thấp hơn ở nhóm chưa được chẩn đoán glôcôm.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Kết luận</strong>: Người bệnh đến khám tại Bệnh viện Mắt Hà Nội có thái độ tương đối tích cực đối với glôcôm nhưng kiến thức và đặc biệt là thực hành tự chăm sóc mắt còn rất hạn chế. Cần tăng cường tư vấn giáo dục sức khỏe do điều dưỡng dẫn dắt, chuẩn hóa hướng dẫn kỹ thuật tra thuốc và ưu tiên sàng lọc - truyền thông cho người cao tuổi, người có học vấn thấp và người chưa từng được chẩn đoán glôcôm.</p>2026-07-31T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1340Tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường típ 2 có tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 20262026-07-05T04:05:05+00:00Tất Thắng Nguyễnthangcdhahd@gmail.comCông Khẩn Nguyễnnoemail@gmail.comQuang Huy Trầnnoemail@gmail.comHuy Hoàng Nguyễnnoemail@gmail.comThị Nga Đặngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường típ 2 có tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 365 người bệnh đái tháo đường típ 2 có tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 12/2025 đến tháng 8/2026 bằng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc và khai thác hồ sơ bệnh án, sau đó xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 áp dụng thống kê mô tả và kiểm định Chi-square ở phân tích đơn biến và mô hình hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan độc lập thông qua tỷ số tỷ lệ chênh hiệu chỉnh, OR với khoảng tin cậy 95% (95%CI).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 65,00 ± 8,72 tuổi, nữ chiếm 51,2%. Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung đạt 57,0%. Người bệnh tuân thủ tốt nhất việc tái khám định kỳ (98,9%) và theo dõi đường huyết (95,1%), nhưng lại hạn chế nhất ở khâu luyện tập thể lực (52,3%) và theo dõi huyết áp tại nhà (64,1%). Phân tích hồi quy đa biến xác định 3 rào cản độc lập đối với tuân thủ gồm: nhóm tuổi ≥ 60 (OR = 7,09; p < 0,001), giới tính nữ (OR = 1,90; p = 0,007) và trình độ học vấn ≤ THPT (OR = 1,88; p = 0,009). Đáng chú ý, kiến thức đóng vai trò quyết định khi người bệnh có kiến thức không đạt có nguy cơ không tuân thủ cao gấp 11,44 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường típ 2 có tăng huyết áp tại bệnh viện đạt mức trung bình (57,0%). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh giáo dục sức khỏe cá thể hóa, tập trung vào nhóm người cao tuổi, phụ nữ và người có trình độ học vấn thấp, đồng thời huy động sự hỗ trợ từ gia đình để duy trì phác đồ điều trị lâu dài cho người bệnh.</p>2026-08-04T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1339Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi sau phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 20262026-07-05T04:02:00+00:00Ngọc Kiên PhạmPhamngockien8694@gmail.comThị Nguyệt Nguyễnnoemail@gmail.comCông Khẩn Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi sau phẫu thuật 4-6 tháng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I-IIIA được phẫu thuật. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang QLQ-C30 và QLQ-LC13. Số liệu sau thu thập được xử lý bằng thuật toán thống kê y sinh học dưới sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 24.0, với độ tin cậy 95%, kết quả có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm sức khỏe tổng quát đạt mức trung bình (60,9 ± 12,7). Trong các thang chức năng, chức năng nhận thức được bảo tồn tốt nhất (71,6 ± 10,8), chức năng hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất (59,0 ± 17,3). Mệt mỏi và đau là hai triệu chứng toàn thân nổi bật nhất. Khó thở khi leo cầu thang là triệu chứng đặc hiệu nghiêm trọng nhất (46,8 ± 25,1). Các tác dụng phụ điều trị ở mức thấp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi sau phẫu thuật 4-6 tháng đạt mức trung bình, với suy giảm chức năng hoạt động và gánh nặng triệu chứng hô hấp là hai vấn đề chính. Cần đưa đánh giá chất lượng cuộc sống vào quy trình theo dõi định kỳ và xây dựng chương trình phục hồi chức năng hô hấp sớm cho nhóm đối tượng này</p>2026-08-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1091Nghiên cứu tâm lý và nhận thức về nguy cơ bệnh tật sau xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính trên cộng đồng2025-09-24T07:11:12+00:00Minh Chí Đinhminhchi103@gmail.comThùy Linh Nguyễnnoemail@gmail.comThanh Tú Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hà Đinhnoemail@gmail.comVăn Phú Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định đặc điểm tâm lí người bệnh sau nhận kết quả xét nghiệm máu ẩn trong phân (FOBT) dương tính. Xác định mối liên quan giữa tâm lý người bệnh sau khi nhận kết quả FOBT dương tính đối với việc đưa ra quyết định tầm soát nguyên nhân.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 176 người bệnh với độ tuổi từ 40 đến 80 ở Ứng Hòa - Hà Nội và Phù Cừ - Hưng Yên, có xét nghiệm FOBT dương tính (trên 100 ng/ml), thời gian từ 7/2023 đến 5/2024. Đánh giá tâm lý người bệnh được tiến hành ngay sau khi nhận được kết quả xét nghiệm FOBT dương tính thông qua trả lời phiếu trắc nghiệm đánh giá mức độ lo âu, dựa trên thang điểm đánh giá mức độ lo âu State-Trait Anxiety Inventory – Form Y1 (STAI-Y1).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ người lo âu chiếm 94.2%, mức thấp và trung bình đa số (35.6% và 39.8%). Mức độ lo âu không liên quan với việc dự định tái khám (χ2 = 0.125 và p = 0.974), nhưng có liên quan với nội soi tìm nguyên nhân (χ2 = 0.9705 và p = 0.021).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Có liên quan chặt giữa tâm lý người bệnh ngay sau khi nhận kết quả FOBT dương tính với việc làm nội soi tìm nguyên nhân bệnh lý đường tiêu hóa khi được nhân viên y tế tư vấn, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tư vấn của nhân viên y tế.</p>2026-08-11T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1092Kiến thức về bệnh glôcôm và yếu tố liên quan của người bệnh đến khám mắt tại Bệnh viện Quân y 1032025-09-24T07:12:19+00:00Thị Thu Hiền Nguyễnnguyenletrungb4@vmmu.edu.vnLê Trung Nguyễnnoemail@gmail.comThị Thu Trịnhnoemail@gmail.comThị Thanh Nga Hồnoemail@gmail.comThị Toan Đặngnoemail@gmail.comDanh Kiên Nguyễnnoemail@gmail.comVăn Phú Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá mức độ kiến thức về bệnh glôcôm và một số yếu tố liên quan của người bệnh đến khám mắt tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 215 đối tượng tại Bệnh viện Quân y 103. Sử dụng bảng hỏi cấu trúc gồm 17 câu (7 câu về thông tin chung và 10 câu về kiến thức). Thang điểm tổng tối đa là 20. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm STATA 18.0, sử dụng thống kê mô tả, tương quan.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình kiến thức là 6,67 ± 1,74. Đa số người tham gia có hiểu biết ở mức trung bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính, khu vực sống và nghề nghiệp có mối liên quan với kiến thức, tuy nhiên chưa tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn, tiền sử gia đình, tiền sửa bản thân và nghề nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ kiến thức về bệnh glôcôm.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Việc cải thiện kiến thức về bệnh glôcôm cần được lồng ghép vào truyền thông y tế đại chúng, đặc biệt hướng đến nhóm trình độ học vấn thấp và vùng nông thôn.</p>2026-08-13T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1305Thực trạng nhu cầu chăm sóc và mức độ độc lập trong sinh hoạt hằng ngày của người bệnh sau phẫu thuật da tại Bệnh viện Da liễu Trung ương2026-07-31T09:38:39+00:00Thị Lan Phương Nguyễnsococ84@gmail.comThu Thúy Hoàngnoemail@gmail.comHồng Sơn Nguyễnnoemail@gmail.comDuy Thành Đàonoemail@gmail.comĐịnh Đức Phạmnoemail@gmail.comThanh Hải Đỗnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng nhu cầu chăm sóc và mức độ độc lập trong sinh hoạt hằng ngày của người bệnh sau phẫu thuật da tại Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 người bệnh sau phẫu thuật da điều trị nội trú tại Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 01/2025 đến tháng 04 năm 2026. Người bệnh được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Nhu cầu chăm sóc được đánh giá bằng bộ câu hỏi gồm 15 mục thuộc 3 lĩnh vực: chăm sóc thể chất, chăm sóc tâm lý và thông tin- giáo dục sức khỏe. Mức độ độc lập trong sinh hoạt hằng ngày được đánh giá bằng thang điểm Barthel Index.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Người bệnh có nhu cầu chăm sóc cao ở lĩnh vực chăm sóc thể chất (99,5%) và thông tin- giáo dục sức khỏe (92,8%), trong khi nhu cầu chăm sóc tâm lý thấp (3,3%). Các nhu cầu nổi bật gồm phòng ngừa nhiễm trùng (97,0%), giảm đau (91,8%), hướng dẫn tự chăm sóc sau phẫu thuật (90,3%) và cung cấp kiến thức về bệnh (88,8%). Điểm nhu cầu chăm sóc trung bình là 5,98 ± 1,62/15 điểm. Đa số người bệnh độc lập trong sinh hoạt hằng ngày (80,3%), 19,8% cần trợ giúp và không có trường hợp phụ thuộc hoàn toàn.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người bệnh sau phẫu thuật da có nhu cầu chăm sóc cao, chủ yếu ở lĩnh vực chăm sóc thể chất và giáo dục sức khỏe, trong khi phần lớn vẫn duy trì được khả năng độc lập trong sinh hoạt hằng ngày. Điều dưỡng cần tăng cường giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc và đánh giá sớm nhu cầu chăm sóc để nâng cao chất lượng chăm sóc sau phẫu thuật.</p>2026-08-14T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng