https://jns.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2026-06-15T07:49:35+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1148Gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc bệnh nhi ung thư tại một số bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam2026-03-12T14:28:50+00:00Thị Kim Liên Nguyễnlientnguyen@tua.edu.phThị Rảnh Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ gánh nặng chăm sóc và mối liên quan với các yếu tố nhân khẩu học ở người chăm sóc bệnh nhi ung thư.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 304 người chăm sóc gia đình bằng thang đo Gánh nặng chăm sóc (Caregiver Burden Inventory - CBI) gồm 24 mục chia thành 5 khía cạnh, tổng điểm từ 0 đến 100 (điểm càng lớn gánh nặng càng cao). Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích phương sai một chiều ANOVA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Gánh nặng chăm sóc chung ở mức cao (50,55 ± 8,60). Gánh nặng phụ thuộc thời gian (12,33 ± 2,81) và thể chất (12,35 ± 2,75) ở mức cao; gánh nặng phát triển (11,27 ± 2,67) và xã hội (11,85 ± 2,18) ở mức trung bình; gánh nặng cảm xúc thấp (5,21 ± 3,44). Kết quả cho thấy tình trạng hôn nhân là yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc chung (F = 3,003; p = 0,031) và gánh nặng cảm xúc (F = 3,910; p = 0,009). Ngoài ra, nơi sinh sống có liên quan có ý nghĩa thống kê với gánh nặng cảm xúc (F = 4,453; p = 0,004). Không ghi nhận mối liên quan với các yếu tố tuổi, giới, mối quan hệ với bệnh nhi và tình trạng việc làm.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người chăm sóc bệnh nhi ung thư chịu gánh nặng chăm sóc ở mức cao. Cần triển khai các biện pháp hỗ trợ tâm lý và hướng dẫn kỹ năng chăm sóc nhằm giảm gánh nặng cho người chăm sóc</p>2026-04-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1296Hiệu quả của can thiệp đa thành phần đối với kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng2026-04-13T14:24:18+00:00Thị Minh Chính Nguyễnnguyenminhchinhsdh@gmail.comThị Bích Ngọc Phạmnoemail@gmail.comThị Hồng Hạnh Trầnnoemail@gmail.comThị Thanh Hường Nguyễnnoemail@gmail.comThị Là Vũnoemail@gmail.comThị Thủy Đàonoemail@gmail.comThị Huyền Trang Nguyễnnoemail@gmail.comThị Cẩm Nhung Trầnnoemail@gmail.comTrường Minh Đàonoemail@gmail.comVăn Thọ Trầnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp đa thành phần đối với kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu can thiệp đánh giá trước- sau được thực hiện từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026 trên 200 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại xã Liên Minh, tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Can thiệp bao gồm tập huấn trực tiếp, cung cấp tài liệu, duy trì tương tác qua các nền tảng số và truyền thông qua loa phát thanh. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc có độ tin cậy tốt (Cronbach’s Alpha 0,77–0,88).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sau can thiệp, KAP cải thiện rõ rệt (p < 0,001). Điểm kiến thức tăng từ 11,55 ± 4,44 lên 32,32 ± 2,77; tỷ lệ đạt mức tốt là 75,5%. Điểm thái độ tăng từ 23,19 ± 8,46 lên 36,26 ± 2,06 (d = 7,53). Điểm thực hành tăng từ 2,57 lên 4,60; kỹ năng tự khám vú cải thiện rõ nhất (0,69 lên 4,50; d = 2,09). Tỷ lệ thực hành chủ động tăng từ 28,0% lên 56,5%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Mô hình can thiệp đa thành phần cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao KAP về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ cộng đồng. Cần duy trì và nhân rộng mô hình để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe phụ nữ.</p>2026-05-08T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1279Kiến thức về sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Nam Định năm 20252026-03-17T09:23:41+00:00Thị Vân Lan Hoàngvanlannhi@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh Viện Nhi Nam Định năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 cha mẹ có con đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Nam Định từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2025. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc, phân tích bằng SPSS 20.0.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 53,2% cha mẹ có kiến thức đạt về sử dụng kháng sinh; điểm trung bình 12,6 ± 3,0 (tối đa 20 điểm). Kiến thức đúng cao nhất về việc tuân thủ đủ liều kháng sinh (89,8%), thấp nhất về biện pháp rửa tay phòng ngừa kháng kháng sinh (49,5%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức của cha mẹ với nhóm tuổi (OR: 3,659; 95% CI: 2,1-6,4), nghề nghiệp (OR: 4,625; 95% CI: 1,8-11,8), trình độ học vấn (OR: 11,420; 95% CI: 5,5-23,6) và thu nhập (OR: 29,867; 95% CI: 11,3-79,1) với p < 0,05.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức sử dụng kháng sinh cho trẻ của cha mẹ bệnh nhi điều trị nội trú chưa tốt, cần tăng cường truyền thông – giáo dục sức khỏe, đặc biệt với cha mẹ trẻ tuổi, thu nhập thấp và lao động phổ thông.</p>2026-05-11T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1295Đánh giá kiến thức đột quỵ não của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược năm 20252026-04-20T02:17:19+00:00Việt Hạnh Lêviethanh1982@gmail.comNgọc Minh Bùinoemail@gmail.comThị Thu Hiền A Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hương Giang Hồnoemail@gmail.comThị Thu Hiền B Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hạnh Hoàngnoemail@gmail.comThị Phương Hải Đỗnoemail@gmail.comThị Thúy Đặngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát kiến thức về kiến thức đột quỵ não của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang, thực hiện trên 400 người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược trong khoảng thời gian từ tháng 10/2025 đến tháng 01/2026.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Có 87,5% người bệnh có kiến thức đúng về đột quỵ não. Điểm trung bình kiến thức chung là 27,4 ± 4,5 (Điểm kiến thức dao động từ 14 đến 36 điểm trên tổng số 38 điểm). Tỷ lệ người bệnh có kiến thức chung đúng về dấu hiệu, cách xử trí đột quỵ não là 81,5%; kiến thức về yếu tố nguy cơ của bệnh và kiến thức về các biện pháp dự phòng lần lượt là 80,3% và 82%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức chung về dự phòng đột quỵ não của người bệnh đái tháo đường type 2 khá tốt.</p>2026-05-13T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1311Thực trạng năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 20242026-04-29T07:28:28+00:00Thị Hương Giang Hồtruongtien.anphat@gmail.comViệt Hạnh Lênoemail@gmail.comThị Thu Hiền Nguyễnnoemail@gmail.com<p style="margin: 0cm;"><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa tại Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2024.</p> <p style="margin: 0cm;"><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2024 trên 130 đối tượng gồm 11 trưởng khoa, 11 điều dưỡng trưởng khoa và 108 điều dưỡng viên. Sử dụng bộ công cụ năng lực quản lý điều dưỡng của Chase (51 mục, 5 lĩnh vực). Số liệu được thu thập bằng bảng hỏi tự điền và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với các chỉ số mô tả (trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ %).</p> <p style="margin: 0cm;"><strong>Kết quả:</strong> Các năng lực chuyên môn và quản lý nhân sự của điều dưỡng trưởng khoa được đánh giá cao với tỷ lệ đạt ≥ 96,3% và 100% ở hầu hết các nhóm. Năng lực lãnh đạo và tư duy có sự khác nhau giữa các nhóm, với tỷ lệ đạt lần lượt là 100%, 90,9% và 88,9% (lãnh đạo), 100%, 81,8% và 66,9% (tư duy) theo đánh giá của trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa và điều dưỡng viên. Năng lực quản lý tài chính là thấp nhất, với tỷ lệ đạt 63,6% (trưởng khoa), 81,8% (điều dưỡng trưởng khoa) và 57,4% (điều dưỡng viên). Điểm trung bình khả năng thực hiện cao nhất ở quản lý nhân sự (3,33-3,63), thấp nhất ở quản lý tài chính (2,96-3,03).</p> <p style="margin: 0cm;"><strong>Kết luận:</strong> Năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng khoa nhìn chung đạt mức khá, trong đó nổi bật ở năng lực chuyên môn và quản lý nhân sự. Tuy nhiên, các năng lực tư duy và đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế, đồng thời tồn tại sự khác biệt trong đánh giá giữa các nhóm đối tượng.</p>2026-05-15T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1286Khả năng học tập tự định hướng của sinh viên điều dưỡng năm thứ nhất tại Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai2026-04-15T07:14:22+00:00Thị Ngọc Mai Trầnttnmai101981@gmail.comMinh Thu Bùinoemail@gmail.comThị Việt Hà Đặngnoemail@gmail.comThị Miền Vũnoemail@gmail.comThị Huyền Nguyễnnoemail@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả mức độ học tập tự định hướng và xác định một số yếu tố liên quan đến khả năng học tập tự định hướng của sinh viên điều dưỡng năm thứ nhất tại Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 418 sinh viên năm thứ nhất. Công cụ sử dụng là thang SRSSDL với 8 thành phần: Nhận thức, Thái độ, Động lực, Phương pháp học tập, Chiến lược học tập, Hoạt động học tập, Kỹ năng giao tiếp và Xây dựng kiến thức. Kết quả: Điểm trung bình SRSSDL đạt 3,864/5, tương ứng với mức năng lực cao. Điểm trung bình của các thành phần dao động từ 3,77 đến 3,95, trong đó Thái độ cao nhất (3,95) và Chiến lược học tập thấp nhất (3,77). Phân loại theo mức độ năng lực: rất thấp 1,9%; thấp 3,6%; trung bình 34,5%; cao 33,0%; rất cao 27%. Phân tích yếu tố liên quan cho thấy thời gian tự học ở nhà và lý do chọn nghề có ảnh hưởng rõ rệt. Sinh viên dành khoảng 4 giờ tự học mỗi ngày và tự nguyện chọn ngành điều dưỡng có điểm số cao hơn. Các yếu tố tuổi, giới, nơi cư trú, kết quả học tập hay ngoại ngữ không có mối liên quan đáng kể. Kết luận: Sinh viên điều dưỡng năm thứ nhất Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai có năng lực học tập tự định hướng ở mức cao, với điểm trung bình 3,86/5. Mức độ năng lực xuất hiện ở tất cả các thang đánh giá từ rất thấp đến rất cao. Thái độ là thành phần có điểm số cao nhất, trong khi chiến lược học tập là thấp nhất. Thời gian tự học và động cơ chọn nghề là những yếu tố quan trọng thúc đẩy năng lực học tập tự định hướng, trong khi các yếu tố nhân khẩu học không có mối liên quan rõ rệt.</p>2026-05-19T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1308Đánh giá nhu cầu chăm sóc và khảo sát mức độ hài lòng của người bệnh sau phẫu thuật lấy thai có sử dụng kỹ thuật giảm đau morphin khoang dưới nhện tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế năm 2024-20252026-04-21T01:06:26+00:00Thị Thu Thuỷ ChếCttthuy@bv.huemed-univ.edu.vnVăn Tâm Lênoemail@gmail.comVăn Sơn Hànoemail@gmail.comThị Thúy Lan Nguyễnnoemail@gmail.comMinh Trí Đỗnoemail@gmail.comThị Minh Thư Nguyễnnoemail@gmail.comThị Minh Khôi Lênoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả chăm sóc và mức độ hài lòng của sản phụ sau phẫu thuật lấy thai có sử dụng morphin khoang dưới nhện tại Bệnh viện Trường Đại học Y- Dược Huế năm 2024-2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu dọc được thực hiện trên 135 sản phụ được phẫu thuật lấy thai có sử dụng morphin khoang dưới nhện tại Bệnh viện Trường Đại học Y- Dược Huế từ tháng 6/2024 đến tháng 6/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 3 phần, đánh giá đặc điểm lâm sàng, nhu cầu chăm sóc và mức độ hài lòng. Các chỉ số được theo dõi tại nhiều thời điểm trong 48 giờ sau mổ. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 48 giờ sau phẫu thuật, kết quả chăm sóc cho thấy 100% sản phụ có vết mổ khô, co hồi tử cung tốt và dấu hiệu sinh tồn ổn định. Mức độ đau chủ yếu nhẹ (VAS ≤ 3), không có trường hợp cần sử dụng morphin. Tác dụng không mong muốn thường gặp gồm ngứa (66,67%), nôn (40,74%) và buồn nôn (37,78%), chủ yếu ở mức độ nhẹ và ít cần can thiệp; không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng. Mức độ hài lòng cao với 97,78% sản phụ hài lòng/rất hài lòng; 97,78% sẵn sàng tiếp tục sử dụng và 97,04% sẵn sàng giới thiệu phương pháp.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả nghiên cứu cho thấy morphin khoang dưới nhện có khả năng kiểm soát đau tốt và mức độ chấp nhận cao ở sản phụ. Nên tiếp tục áp dụng trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở có đủ điều kiện theo dõi, đồng thời tăng cường dự phòng và xử trí sớm các tác dụng không mong muốn.</p>2026-05-20T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1260Tác động của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên Điều dưỡng Trường Đại học Nguyễn Tất Thành2026-03-17T08:06:40+00:00Phạm Thị Thu Nga2000001076@nttu.edu.vnThị Thảo Hiền Lêltthien@ntt.edu.vnThị Rảnh Nguyễnntranh@ntt.edu.vnThị Lình Võvtlinh@ntt.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và tác động của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên Điều dưỡng tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 sinh viên Điều dưỡng từ tháng 06 đến tháng 09 năm 2024 bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Dữ liệu được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền có độ tin cậy cao (CVI = 1, Cronbach’s Alpha = 0,66).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nữ giới chiếm đa số (82,0%), chủ yếu là sinh viên năm 2 và năm 4. Có 76,7% sinh viên làm công việc không liên quan đến chuyên ngành, phổ biến nhất là dịch vụ bán hàng (42,0%). Lý do chính đi làm thêm là để có thu nhập (34,7%). Đáng chú ý, nhóm sinh viên làm thêm từ 4 - 6 giờ/ngày có điểm số cao nhất. Mặc dù 54,7% sinh viên cảm thấy không bị ảnh hưởng, tỷ lệ sinh viên có điểm dưới 6.0 đã tăng thêm 6% sau khi đi làm thêm.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Việc làm thêm có tác động hai mặt. Nếu được quản lý thời gian hợp lý (khoảng 4 - 6 giờ/ngày), việc làm thêm có thể hỗ trợ tích cực cho kết quả học tập. Tuy nhiên, nhà trường cần tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các công việc liên quan đến chuyên ngành để tối ưu hóa kỹ năng thực hành.</p>2026-05-21T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1298Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh nội trú của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn2026-05-09T09:19:49+00:00Đình Tâm Đỗdotamck1bvqs@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng thực hiện các hoạt động chăm sóc người bệnh nội trú của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ 50 điều dưỡng viên đang trực tiếp chăm sóc người bệnh tại 5 khoa lâm sàng có giường bệnh nội trú. Công cụ thu thập gồm bảng kiểm quan sát trực tiếp (200 lượt) và quan sát gián tiếp qua hồ sơ bệnh án (200 hồ sơ), được xây dựng dựa trên 9/12 nhiệm vụ chuyên môn theo Thông tư 31/2021/TT-BYT. Mỗi tiểu mục đánh giá theo thang 5 mức điểm; ngưỡng hoàn thành khi điểm trung bình > 3,5/5,0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ hoàn thành các hoạt động chăm sóc dao động từ 65,9% (tư vấn giáo dục sức khỏe) đến 96,0% (chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật). Hai nhiệm vụ có tỷ lệ hoàn thành thấp nhất là tư vấn giáo dục sức khoẻ (65,9%) và dùng/theo dõi dùng thuốc (68,0%). Tỷ lệ nhân lực điều dưỡng/giường bệnh thực kê chỉ đạt 0,46 so với chuẩn 1,0-1,2 nhân lực/giường. Ngoài giờ hành chính, 100% điều dưỡng viên phải chăm sóc trên 20 người bệnh/ca trực.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Phần lớn hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng được thực hiện ở mức đạt, song tư vấn giáo dục sức khoẻ và giám sát sử dụng thuốc còn nhiều hạn chế. Thiếu hụt nhân lực điều dưỡng nghiêm trọng là rào cản cốt lõi ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc toàn diện. Bệnh viện cần ưu tiên tăng cường biên chế điều dưỡng, xây dựng tài liệu giáo dục sức khoẻ chuyên biệt và giám sát liên tục việc tuân thủ quy trình ngoài giờ.</p>2026-05-25T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1299Một số yếu tố liên quan đến kiến thức dự phòng đột quỵ não của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược năm 20252026-05-11T13:56:07+00:00Việt Hạnh Lêviethanh1982@gmail.comTrung Dũng Phạmnoemail@gmail.comThị Thu Hiền A Nguyễnnoemail@gmail.comThị Thu Hiền B Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hạnh Hoàngnoemail@gmail.comThị Phương Hải Đỗnoemail@gmail.comThị Thúy Đặngnoemail@gmail.comThị Hương Giang Hồnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức dự phòng đột quỵ não của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 1 năm 2026.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 các yếu tố liên quan đến kiến thức dự phòng đột quỵ não bao gồm tuổi ≥ 70, thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm (p < 0,05) và xét nghiệm glucose máu lúc đói không đạt mục tiêu, trong khi trình độ học vấn, nguồn thông tin, tiền sử gia đình, giới tính, nghề nghiệp, hoạt động thể lực không liên quan (p > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm người bệnh cao tuổi, xét nghiệm glucose máu lúc đói không đạt mục tiêu và có thời gian mắc bệnh kéo dài liên quan đến kiến thức dự phòng đột quỵ não. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò sàng lọc và tư vấn, đồng thời xây dựng các chương trình giáo dục sức khỏe phù hợp theo từng nhóm tuổi và thời gian mắc bệnh nhằm nâng cao kiến thức dự phòng đột quỵ não ở người bệnh.</p>2026-05-27T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1253Hiệu quả của thực hành mô phỏng với kỹ năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định 2026-03-16T08:44:08+00:00Thị Hồng Hạnh Trầnhanhtranvn@gmail.comThị Linh Chi Nguyễnnoemail@gmail.comThị Huế Tưởngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của phương pháp đào tạo mô phỏng trong việc nâng cao kỹ năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên điều dưỡng năm thứ ba tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu can thiệp trên một nhóm, có so sánh trước và sau, được thực hiện trên 200 sinh viên đại học điều dưỡng chính quy, từ tháng 2 đến tháng 6/2025. Nghiên cứu sử dụng thang đo kỹ năng ra quyết định lâm sàng gồm 24 câu, điểm dao động từ 24 đến 120 điểm. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0, sử dụng kiểm định Paired sample t-test với mức ý nghĩa p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Trước can thiệp, điểm trung bình kỹ năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên đạt 85,34 ± 16,88 điểm. Sau can thiệp, điểm trung bình chung tăng lên đáng kể, đạt 94,83 ± 12,24 điểm (p < 0,05). Sự cải thiện ghi nhận được ở cả 3 mức độ: nhóm mức độ kém tăng từ 56,21 ± 11,73 lên 79,68 ± 6,42 điểm; nhóm trung bình tăng từ 72,40 ± 3,05 lên 85,58 ± 8,26 điểm; và nhóm tốt tăng từ 94,89 ± 11,08 lên 100,55 ± 9,93 điểm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đào tạo mô phỏng mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện kỹ năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên điều dưỡng, đặc biệt có tác động tích cực nhất đối với nhóm sinh viên có kỹ năng ban đầu ở mức độ kém. Các cơ sở đào tạo cần tiếp tục triển khai và chú trọng cá thể hóa hỗ trợ cho sinh viên có kỹ năng ra quyết định lâm sàng thấp trong quá trình đào tạo mô phỏng. </p>2026-05-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1259Dịch thuật và kiểm định các đặc tính đo lường của thang đo Utrecht Work Engagement Scale - Student (UWES-9) trên sinh viên Việt Nam2026-02-26T09:25:11+00:00Minh Sinh Đỗdmsinh@ndun.edun.vnThị Hòa Đỗnoemail@gmail.comThị Hải Oanh Vũnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Dịch thuật và kiểm định các đặc tính đo lường của thang đo gắn kết học tập UWES-9 phiên bản tiếng Việt trên sinh viên điều dưỡng.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu phương pháp luận gồm hai giai đoạn: (1) dịch thuật và thích nghi văn hóa dựa trên hướng dẫn quốc tế; (2) khảo sát cắt ngang kiểm định đặc tính đo lường theo khung COSMIN. Giá trị nội dung được đánh giá bởi chuyên gia và khảo sát nhận thức; giá trị cấu trúc bằng phân tích nhân tố xác nhận; độ tin cậy và giá trị xây dựng bằng tương quan và độ nhất quán nội tại.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: UWES-9 tiếng Việt cho thấy giá trị nội dung tốt và phù hợp khái niệm trong đào tạo điều dưỡng. Phân tích cấu trúc hỗ trợ mô hình ba thành phần và ghi nhận nhân tố chung mạnh. Thang đo có độ nhất quán nội tại cao và giá trị xây dựng phù hợp giả thuyết, với gắn kết liên quan cùng chiều với động lực và nghịch chiều với căng thẳng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> UWES-9 phiên bản tiếng Việt đạt các tiêu chí đo lường chính và có thể được sử dụng trong nghiên cứu và theo dõi gắn kết học tập ở sinh viên điều dưỡng. Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đối tượng sang các ngành khoa học sức khỏe khác và thiết kế dọc để đánh giá giá trị dự báo.</p>2026-06-01T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1280Thực trạng chăm sóc điều dưỡng ở người bệnh có đặt đường truyền catheter tĩnh mạch trung tâm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 20252026-05-05T02:59:04+00:00Thị Xuân Mỹ Maimymyhtc@gmail.comXuân Dương Lênoemail@gmail.comQuang Tuyển Đỗnoemail@gmail.comVăn Hảo Lênoemail@gmail.comThị Hạnh Nguyễnnoemail@gmail.comVăn Toàn Phùngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả chăm sóc đường truyền catheter tĩnh mạch trung tâm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và một số yếu tố liên quan năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả có phân tích trên 99 người bệnh đặt catheter tĩnh mạch trung tâm tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 01/2025 đến tháng 06/2025. Đánh giá kết quả chăm sóc đường truyền catheter theo hướng dẫn quy trình điều dưỡng nội bộ của Bệnh viện và Bộ Y tế.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Có 60,6% người bệnh được thực hiện đầy đủ các thao tác chăm sóc catheter thường quy, với tỷ lệ các biến chứng tuột, viêm chân, nhiễm trùng catheter và CLABSI lần lượt là 3,0%, 22,2%, 8,1% và 4,0%. Các yếu tố như đặt catheter từ lần thứ 2 trở lên, lưu giữ catheter dài ngày, sử dụng nhiều đường nối thêm hoặc đặt nhiều lần làm gia tăng đáng kể rủi ro biến chứng. Quan trọng nhất, việc thực hiện quy trình chăm sóc catheter không đầy đủ làm tăng rủi ro nhiễm khuẩn lên một cách rõ rệt.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Cần có các biện pháp can thiệp nhằm tăng cường nhận thức, hiệu quả thực hành cho đội ngũ điều dưỡng để kiểm soát biến chứng catheter tại các đơn vị hồi sức một cách có hiệu quả</p>2026-06-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1288Nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng viên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện E năm 2024 2026-04-16T03:07:22+00:00Văn Long Trầnlongtv1964@gmail.comVăn Duy Thành Dươngnoemail@gmail.comThị Hương Mainoemail@gmail.comThùy Linh Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại Bệnh viện E năm 2024; Xác định một số yếu tố liên quan đến nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại Bệnh viện E.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 04/2024 đến 07/2024 trên 244 điều dưỡng viên đang làm việc tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện E được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn bằng bộ công cụ đo Expand Nursing Stress Scale (ENSS).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 100% điều dưỡng viên có nguy cơ gặp phải căng thẳng: trong đó, nguy cơ thấp (70,1%), trung bình (29,5%), và cao (0,4%); điểm trung bình (ĐTB) nguy cơ căng thẳng là 1,71 ± 0,39 trên thang điểm 4. Điều dưỡng viên làm tại các khoa Nội có ĐTB nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp cao nhất (1,78 ± 0,39), tiếp theo là khoa Ngoại – Sản (1,72 ± 0,38) cuối cùng là Chuyên khoa lẻ (1,44 ± 0,26) (p < 0,05). Điều dưỡng viên có trình độ từ đại học trở lên, trực tiếp chăm sóc người bệnh, có thái độ không tốt với công việc có điểm trung bình nguy cơ căng thẳng cao hơn các nhóm còn lại (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số điều dưỡng viên có nguy cơ căng thẳng nghề nghiệp ở mức thấp và trung bình. Yếu tố liên quan đến nguy cơ căng thẳng của điều dưỡng viên: Trình độ chuyên môn, Khoa làm việc, vị trí công tác, thực hiện nhiều hơn một công việc, thái độ với nghề điều dưỡng.</p>2026-06-04T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1284Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc điều trị trên người bệnh Crohn tại Trung tâm Tiêu hóa Gan mật - Bệnh viện Bạch Mai2026-04-21T01:50:18+00:00Thị Thanh Phượng Phạmphamthithanhphuong@hmu.edu.vnBình Nguyên Phạmnoemail@gmail.comVăn Hiếu Nguyễnnoemail@gmail.comVân Khánh Nguyễnnoemail@gmail.comThị Thu Hà Tạnoemail@gmail.comHoàng Tước Nguyễnnoemail@gmail.comThị Thơm Nguyễnnoemail@gmail.comThị Ngọc Anh Trầnnoemail@gmail.comThị Phương Vũnoemail@gmail.comVăn Phúc B Phạmnoemail@gmail.comNgọc Hoàn Đinhnoemail@gmail.comViết Hằng Nguyễnnoemail@gmail.comThu Hiền Tạnoemail@gmail.comThị Thủy Nguyễnnoemail@gmail.comThị Như Quỳnh Hànoemail@gmail.comThị Phương Liên Đinhnoemail@gmail.comThị Thanh Thúy Phạmnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc điều trị trên người bệnh Crohn và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Tiêu hóa Gan Mật - Bệnh viện Bạch Mai.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Mô tả cắt ngang trên 63 người bệnh mắc bệnh Crohn điều trị bằng thuốc sinh học và/hoặc thuốc ức chế miễn dịch tại Trung tâm Tiêu hóa- Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2025. Tất cả người bệnh được phỏng vấn tuân thủ sử dụng thuốc bằng thang điểm Morisky-8.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kết quả đánh giá chung tuân thủ sử dụng thuốc theo thang Morisky-8, tỉ lệ tuân thủ sử dụng thuốc là 61,9%. Người bệnh có tỉ lệ uống thuốc đầy đủ (ngày hôm qua) tương đối tốt ở mức 87,3% nhưng có tới 84,1% cảm thấy khó khăn khi phải tuân thủ nghiêm ngặt điều trị. Tỉ lệ quên sử dụng thuốc trong 2 tuần qua là 39,7%, có 7 trường hợp tự ý giảm liều hoặc ngừng sử dụng bởi vì thấy sức khỏe xấu hơn. Nhìn chung, 68,3% gặp khó khăn khi phải nhớ uống thuốc ở mức thỉnh thoảng và thường xuyên. Tỉ lệ tuân thủ sử dụng thuốc ở nhóm tuổi dưới 25, trình độ học vấn đại học và sau đại học, sống tại thành phố, nghề nghiệp học sinh-sinh viên cao hơn lần lượt là 6,5 lần, 3,3 lần, 15,7 lần và 5,8 lần so với nhóm còn lại (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Người bệnh mắc bệnh Crohn có mức độ tuân thủ sử dụng thuốc trung bình, có mối liên quan giữa tỉ lệ tuân thủ cao với nhóm tuổi, trình độ học vấn, địa dư và nghề nghiệp.</p>2026-06-05T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1187Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định năm 20252025-12-26T02:30:40+00:00Thị Kim Chi Vũnoemail@gmail.comThị Lan Anh Mainoemail@gmail.comThu Mùi PhạmPhammui281116@gmai.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 90 người bệnh COPD ngoại trú từ tháng 03 đến tháng 06/2025. Bộ công cụ tự xây dựng dựa theo luận văn Thạc sĩ Bùi Văn Cường “Thay đổi kiến thức tự chăm sóc người bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính tại khoa Hô hấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh” và tham khảo thêm các tài liệu có sẵn và được kiểm định độ tin cậy gồm 36 câu hỏi trong đó có 9 câu về thông tin chung người bệnh còn lại 27 câu đánh giá kiến thức tự chăm sóc (thuốc, dinh dưỡng, phục hồi chức năng hô hấp, phòng ngừa đợt cấp, cai thuốc lá/rượu). Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 25.0 với thống kê mô tả.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình bệnh nhân là 66,7 ± 9,2; nam giới chiếm 76,7%%. Kiến thức tự chăm sóc còn hạn chế với điểm trung bình 5,5 ± 3,9/27 điểm; tỷ lệ người bệnh đạt kiến thức ở các lĩnh vực còn thấp: kiến thức chung 22,4%, tuân thủ dùng thuốc 33,9%, dinh dưỡng 45,2%, luyện tập phục hồi chức năng 17,6% và cai thuốc lá - hạn chế rượu bia 28,9%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức tự chăm sóc của bệnh nhân COPD ngoại trú tại Nam Định còn hạn chế, đặc biệt về dinh dưỡng và phục hồi chức năng hô hấp. Giáo dục sức khỏe cần được tăng cường, tập trung vào nhóm cao tuổi và trình độ học vấn thấp.</p>2026-06-11T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1289Đánh giá năng lực thực hành chăm sóc theo một số tiêu chí năng lực điều dưỡng cơ bản của sinh viên điều dưỡng năm thứ 4 tại Trường Đại học Đại Nam2026-04-06T09:18:17+00:00Thị Phương Ly Lòlyltp@dainam.edu.vnQuang Huy Trầntranquanghuy@dainam.edu.vnThị Minh Tâm Trầntam.tranthiminh@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả năng lực thực hành chăm sóc và xác định một số yếu tố liên quan đến năng lực thực hành chăm sóc của sinh viên điều dưỡng năm thứ 4 tại Trường Đại học Đại Nam năm 2025.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu định lượng (mô tả cắt ngang) kết hợp định tính. Dữ liệu định lượng được thu thập trên 53 sinh viên điều dưỡng chính quy năm thứ 4 bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (lấy mẫu toàn bộ), số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 27 với các phép thống kê mô tả, kiểm định Chi-square. Phần định tính được tiến hành thông qua 02 cuộc thảo luận nhóm tập trung, phân tích bằng phương pháp phân tích chủ đề (Thematic Analysis) nhằm làm rõ và bổ sung các kết quả định lượng.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Kết quả cho thấy tổng điểm năng lực thực hành chăm sóc của sinh viên điều dưỡng đạt mức khá, với điểm trung bình 53,58 ± 13,56, dao động từ 13 đến 73 điểm. Các năng lực kỹ thuật như thực hiện thuốc (9,19 ± 3,02/12 điểm) và kỹ thuật chăm sóc (9,04 ± 2,05/12 điểm) đạt điểm cao nhất, trong khi giao tiếp và làm việc nhóm thấp nhất (4,26 ± 1,70/6 điểm). Phân tích định lượng cho thấy sinh viên nữ có khả năng đạt năng lực thực hành cao hơn sinh viên nam (OR = 7,25; p = 0,006); đồng thời, thời gian tự học > 2 giờ/ngày cũng làm tăng khả năng đạt năng lực (OR = 12,65; p = 0,02). Kết quả định tính bổ sung thêm yếu tố tình trạng sức khỏe, thái độ học tập, khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, hạn chế trong hướng dẫn lâm sàng, áp lực môi trường thực tập và điều kiện cơ sở vật chất cũng liên quan đến năng lực thực hành chăm sóc của sinh viên điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Năng lực thực hành chăm sóc của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Đại Nam hiện ở mức khá. Các yếu tố liên quan bao gồm giới tính, thời gian tự học, sức khỏe và môi trường thực tập. Cần có các biện pháp đồng bộ như tăng cường hướng dẫn lâm sàng, phát triển mô hình mô phỏng, và khuyến khích sinh viên tự học nhằm nâng cao năng lực thực hành chăm sóc đáp ứng chuẩn năng lực điều dưỡng Việt Nam.</p>2026-06-15T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng