https://jns.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2025-12-25T01:44:45+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1221Bìa và mục lục2025-12-25T01:40:43+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vn<p>Bìa và mục lục</p>2025-12-25T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1053Tuân thủ điều trị trong lĩnh vực điều dưỡng: Phân tích khái niệm2025-09-22T08:02:32+00:00Thanh Hà Lêlethanhha.hvqy@gmail.comTuấn Anh Lươngnoemail@gmail.comThị Thu Huyền Lạinoemail@gmail.comThị Thu Hương Trầnnoemail@gmail.comThị Hồng Phạmnoemail@gmail.com<p>Sự tuân thủ điều trị ở người bệnh là yếu tố hết sức quan trọng để cải thiện tình trạng sức khỏe, tăng cường chất lượng cuộc sống, đặc biệt trong việc quản lý điều trị các bệnh lý mãn tính, phục hồi sau chấn thương, sau phẫu thuật.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Phân tích khái niệm tuân thủ điều trị.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Việc phân tích được thực hiện theo phương pháp Walker và Avant qua bốn cơ sở dữ liệu là PubMed, Google Scholar, CINAHL Database, Cochrane (từ năm 2000 đến 2025).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Từ tài liệu, tổng hợp “tuân thủ điều trị” là khả năng thực hiện theo các khuyến nghị, khuyến cáo của nhân viên y tế, điều này dựa vào thực hành tự chăm sóc và sự sẵn hợp tác của người bệnh. Có bốn thuộc tính của khái niệm gồm: (1) hành vi tự chăm sóc, (2) thực hiện theo các khuyến nghị về sức khỏe, (3) sẵn sàng hợp tác và (4) giao tiếp với nhân viên y tế. Tiền đề là: đặc điểm của phác đồ, việc truyền đạt lời khuyên tư vấn và thái độ của người bệnh với lời khuyên tư vấn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Định nghĩa mới về tuân thủ được đưa ra trong phân tích khái niệm này cung cấp sự rõ ràng và định hướng cho việc tìm hiểu nâng cao vấn đề thực hành điều dưỡng trong tương lai. Hơn nữa, nghiên cứu này giúp nâng cao nhận thức của điều dưỡng về nhu cầu giao tiếp hiệu quả với người bệnh để tăng hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ phát triển biến chứng sớm và tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.</p>2025-10-28T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1089Động lực làm việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Bắc Thăng Long, Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan2025-10-13T00:44:43+00:00Thị Bình Minh Dươngnguyenthanhnd1990@gmail.comThị Nguyên Lưunoemail@gmail.comThanh Tâm Bùinoemail@gmail.comThị Lan Annoemail@gmail.comHoài Thu Nguyễn noemail@gmail.comThị Nhung Tiêunoemail@gmail.comThị Thu Hương Hoàngnoemail@gmail.comThị Hạnh Nguyễn noemail@gmail.comThị Trang Lênoemail@gmail.comLan Hương Hoàngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá mức độ động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Bắc Thăng Long, Hà Nội năm 2024 và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 300 nhân viên y tế đáp ứng tiêu chí chọn mẫu. Động lực làm việc được đo lường bằng bảng hỏi xây dựng dựa trên thuyết hai nhân tố của Herzberg với thang đo Likert năm mức; quy ước “có động lực” khi điểm trung bình từ 3,75 trở lên.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhân viên y tế được đánh giá “có động lực” đạt 79,7%. Điểm trung bình động lực chung 4,14 trên 5; các thành phần có điểm cao gồm trách nhiệm với công việc (4,25) và bản chất công việc (4,24); sự thừa nhận thành tích thấp nhất (3,99). Nhóm từ 35 tuổi trở lên có động lực cao hơn nhóm dưới 35 tuổi (84,8% so với 67,4%; OR: 0,370; 95%CI: 0,207–0,662). Nhóm đã kết hôn có động lực cao hơn nhóm độc thân (83,6% so với 45,2%; OR: 0,161; 95%CI: 0,074–0,350). Không thấy khác biệt về động lực làm việc theo giới và trình độ học vấn.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Động lực làm việc của nhân viên y tế tại bệnh viện tuyến thành phố ở mức cao, nổi bật ở các yếu tố mang tính nội tại (trách nhiệm và bản chất công việc) nhưng còn khoảng trống về cơ chế thừa nhận thành tích. Các ưu tiên can thiệp gồm: thể chế hóa ghi nhận và khen thưởng theo nhiều tầng, tăng cường giám sát hỗ trợ, tối ưu các yếu tố điều kiện vệ sinh công việc, và cá thể hóa hỗ trợ theo nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân.</p>2025-10-28T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1157Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc trẻ mắc bệnh cúm mùa tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times city2025-10-20T14:41:15+00:00Thị Thuần Hàthuanhtnkd@gmail.comThị Thu Thủy Phínoemail@gmail.comThị Lượng Trầnnoemail@gmail.comThị Huyền Hoàngnoemail@gmail.comThị Phương Đặngnoemail@gmail.comThị Thanh Nhàn Vũnoemail@gmail.comVăn Thành Phạmnoemail@gmail.comThị Hiền Trịnhnoemail@gmail.comThị Tươi Vũnoemail@gmail.comThanh Nam Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc trẻ mắc bệnh cúm mùa tại Bệnh viện Đa khoa Vinmec Times City.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán mắc cúm mùa điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 02 năm 2022. Sử dụng thông tin từ hồ sơ bệnh án để thu thập tình trạng lâm sàng và bộ câu hỏi phát vấn để đánh giá về công tác chăm sóc trẻ của điều dưỡng. Phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 25.0 với bảng biểu mô tả tần số và tỷ lệ %, sử dụng test Chi-square để phân tích yếu tố liên quan giữa một số yếu tố và kết quả chăm sóc.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chăm sóc tốt đạt 81,5%, thời gian điều trị trung bình là 3,8 ± 1,7 ngày, có mối liên quan giữa tuổi của trẻ, tình trạng sốt và rối loạn tiêu hóa khi nhập viện với kết quả chăm sóc điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả chăm sóc tốt chiếm 81,5% và tỷ lệ chăm sóc chưa tốt là 18,5%. Trong chăm sóc trẻ mắc cúm mùa cần quan tâm, chú ý những trẻ dưới 5 tuổi, có tình trạng sốt cao/rất cao; bệnh nhi có kèm theo tiêu chảy hoặc nôn, trớ.</p>2025-10-28T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1132Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 20252025-09-29T08:35:17+00:00Thị Thu Trầnthuhaitran89@gmail.comVăn Đông Phạmnoemail@gmail.comThị Thiêm Caonoemail@gmail.comThị Liên Nguyễn noemail@gmail.comQuang Huy Trầnnoemail@gmail.comThị Hòa Dươngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng viên lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 262 điều dưỡng viên tại 8 khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2025. Dữ liệu thu thập dưới hình thức phát vấn sử dụng bộ công cụ KASRP (Knowledge and Attitudes Survey Regarding Pain).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ điều dưỡng đạt kiến thức và thái độ quản lý đau là 73,3%, 26,7% chưa đạt. Một số yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê, bao gồm trình độ chuyên môn (cao đẳng chưa đạt cao hơn so với nhóm đại học/sau đại học; p = 0,014), điều dưỡng có bậc năng lực dưới 3 có tỷ lệ đạt cao hơn; p = 0,031), tỷ lệ điều dưỡng khối Nội và Ngoại/Sản chưa đạt cao hơn so với điều dưỡng khối Ung bướu, Hồi sức cấp cứu, Nhi; p < 0,01) và khối lượng công việc (nhóm chăm sóc ≤ 5 Người bệnh/ngày có tỷ lệ chưa đạt cao hơn, p = 0,014). Ngoài ra, thực hành và đào tạo cũng có ảnh hưởng rõ rệt: điều dưỡng không thường xuyên đánh giá đau có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,006), chưa tham gia tập huấn/hội thảo chuyên đề có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,004), và cảm thấy chưa được đào tạo đủ là có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,003). Các yếu tố tuổi, giới tính, thời gian công tác và đào tạo nội bộ không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City chịu ảnh hưởng bởi trình độ học vấn, bậc năng lực, đơn vị công tác, khối lượng công việc, thói quen đánh giá đau và sự tham gia tập huấn chuyên đề</p>2025-10-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1145Thực trạng kiến thức tự tiêm insulin của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Thanh Nhàn2025-10-09T02:21:18+00:00Khánh Huyền NguyễnHuyen.nk@thanglong.edu.vnĐình Tôn Đoànnoemail@gmail.comThị Bưởi Vũnoemail@gmail.comThu Hằng Đặngnoemail@gmail.comThị Hương Giang Trầnnoemail@gmail.comNam Hồng Nguyễn noemail@gmail.comQuý Phong Hoàngnoemail@gmail.comKiều Anh Nguyễn noemail@gmail.comThị Như Mai Nguyễn noemail@gmail.comQuang Tuyển Đỗnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức tự tiêm Insulin của người bệnh đái tháo đường type 2 tại khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA 2021 tại khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa, bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 04 năm 2024 đến tháng 08 năm 2024 bằng bộ câu hỏi ITQ (Injection Technique Questionnaire) đã được thông qua tại hội thảo khuyến nghị chuyên gia (FITTER) và đã được chỉnh sửa cho phù hợp theo ý kiến của chuyên gia. Bộ công cụ được đánh giá độ tin cậy qua chỉ số Cronbach’s Alpha > 0,7.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Người bệnh có kiến thức đúng về sử dụng Insulin: biết về làm ấm insulin bảo quản trong tủ lạnh trước khi tiêm (84%), biết bảo quản insulin mới chưa dùng (78%), biết thời gian hết hạn insulin sau khi mở (73,3%), biết cách lăn trộn insulin loại đục trước khi dùng (66,7%), bảo quản insulin đang tiêm (66%), tuân thủ sử dụng insulin (62,7%), biết tên insulin đang dùng (58,7%), biết thời gian ăn sau tiêm (56,7%). Người bệnh có kiến thức đúng về dụng cụ tiêm: biết sử dụng kim, bơm tiêm (58,7%), biết sử dụng kim bút tiêm (38,7%), biết chiều dài kim của dụng cụ tiêm (29,3%). Người bệnh có kiến thức đúng về vị trí tiêm: biết cách xác định vị trí tiêm (40%), biết cách xác định độ rộng vùng tiêm (33,3%), biết cách luân chuyển vị trí tiêm (18,7%). Tỷ lệ người bệnh có kiến thức tiêm insulin đạt chiếm 60%, chưa đạt chiếm 40%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức chung tự tiêm insulin của người bệnh đạt chiếm 60%. Kiến thức tự tiêm insulin đúng của người bệnh dao động từ 18,7% đến 84%. </p>2025-10-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1114Động lực học tập nâng cao năng lực tiếng anh của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y lâm sàng2025-09-19T09:18:22+00:00Thị Hồng Nhẩn Võnoemail@gmail.comThị Hồng Minh Nguyễnminh.nth@umc.edu.vnThị Thu Hảo Nguyễn noemail@gmail.comHoàng Phúc Lênoemail@gmail.comThị Bích Ngọc Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu đánh giá động lực học tập cải thiện năng lực tiếng Anh và các yếu tố liên quan của khối điều dưỡng Việt Nam.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên các điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật y bằng lấy mẫu thuận tiện. Động lực học tập tiếng Anh được đo bằng Thang đo động lực làm việc đa chiều (MWMS).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình động lực của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y là 86,20 ± 17,51 điểm, với 64,7% có động lực ở mức trung bình. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đặc điểm cá nhân, nghề nghiệp và động lực học tiếng Anh của họ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật y lâm sàng tại Việt Nam có động lực học tiếng Anh ở mức trung bình, phản ánh nhu cầu cần được hỗ trợ và khuyến khích nhiều hơn để thúc đẩy động lực của họ trong quá trình nâng cao năng lực ngoại ngữ.</p>2025-10-29T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1139Mô hình bệnh tật hệ nội tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023-20242025-10-03T02:19:29+00:00Thị Thảo Nguyễn noemail@gmail.comTiến Lộc Đỗnoemail@gmail.comThanh Bình Nguyễn noemail@gmail.comThị Phương Thảo Vũnoemail@gmail.comĐức Thuấn Bùinoemail@gmail.comThị Nguyệt Trầnnoemail@gmail.comQuang Trung Trươngtruongtrung@hmu.edu.vn<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mô hình bệnh tật người bệnh điều trị nội trú hệ nội và phân tích xu hướng bệnh tật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023 - 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu dữ liệu thứ cấp được thực hiện trên 12.951 bệnh án người bệnh đến khám, nhập viện điều trị, chẩn đoán bệnh theo ICD tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2023–2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Cho thấy bệnh phổ biến nhất là: Nhóm bệnh lý tiêu hóa (chương XI) chiếm tỷ lệ lớn nhất 15,9%, tiếp theo là bệnh lý Tuần hoàn (chương IX) 15,6% và Hô hấp (chương X) 12,3%. Nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 45,9%, nam giới chiếm 53,6%. Xu hướng bệnh nội trú tăng ở các nhóm nội tiết, hô hấp, và tuần hoàn từ 2023 đến 2024. Phân bố bệnh có liên quan đáng kể đến giới tính và nhóm tuổi (χ² = 349,91; p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phòng ngừa, điều trị, giáo dục sức khỏe và cải thiện quản lý bệnh viện, đặc biệt đối với bệnh mạn tính, cung cấp bằng chứng quan trọng cho quản lý bệnh viện và kiểm soát bệnh mạn tính.</p>2025-10-30T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1077Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Sơn La năm 2024 - 20252025-10-29T01:07:55+00:00Thị Thu Trang Hàhathithutrang2951987@gmail.comTrung Hiếu Kiềunoemail@gmail.comThị Hảo Bùinoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Sơn La năm 2024 - 2025. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 895 Sinh viên đang theo học tại Trường cao đẳng Y tế Sơn La từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025, sử dụng thang đo Depression - Anxiety - Stress Scales 21 (DASS 21) để đánh giá về stress của sinh viên.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên bị stress là 32%. Một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng stress của sinh viên là từng bị bạo lực mạng có nguy cơ Stress cao nhất với (p < 0,05; OR = 6,9); có mâu thuẫn với bạn bè với (p < 0,01; OR = 3,74); có xung đột với thành viên trong gia đình (p < 0,01; OR = 3,07); Nữ giới (p < 0,01; OR = 1,85) và có áp lực học tập (p < 0,01; OR = 1,57).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên là: Sinh viên là nữ; Cảm thấy áp lực với học tập; Bất hoà, mâu thuẫn với bạn bè; Từng bị bạo lực mạng xã hội; Xung đột với thành viên trong gia đình.</p>2025-11-07T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1048Thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 1032025-08-13T03:30:01+00:00Văn Tiến Vũvutienbmddbv103@gmail.comAnh Tuấn Lênoemail@gmail.comXuân Hùng Đặngnoemail@gmail.comTrung Hiếu Ngônoemail@gmail.comHữu Đức Nguyễn noemail@gmail.comMinh Quang Ngônoemail@gmail.comNhật Anh Lênoemail@gmail.comThị Thùy Dung Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 130 người bệnh đang điều trị tại Khoa Phẫu thuật ống tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 07 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024. Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa trên tài liệu “Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng” và “Dinh dưỡng lâm sàng” được thẩm định bởi 03 chuyên gia với CVI là 0,96 và độ tin cậy là 0,89.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Có 34,62% người bệnh có kiến thức đạt về chế độ ăn và 65,38% chưa đạt. Tuổi, nơi ở, trình độ học vấn, mức sống và đã nhận thông tin dinh dưỡng được ghi nhận có liên quan đến kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 còn hạn chế. Cần tăng cường giáo dục dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật nhằm cải thiện kết quả điều trị và phục hồi.</p>2025-11-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1134Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Vinmec Times City năm 20252025-09-29T09:30:53+00:00Văn Chuyên Mainoemail@gmail.comThị Nguyệt Nguyễnnguyetnguyenvnu@gmail.comThị Thu Hương Nguyễn noemail@gmail.comThị Thu Nguyễn noemail@gmail.comPhúc Phóng Nguyễn noemail@gmail.comVăn Thảo Vũnoemail@gmail.comViết Long Đỗnoemail@gmail.comThị Ngọc Hà Lưunoemail@gmail.comAnh Sơn Đặngnoemail@gmail.comThanh Nam Nguyễn noemail@gmail.comHồng Thu Bếnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Mô tả cắt ngang trên 272 người bệnh Đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Thu thập số liệu từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 4 năm 2025 sử dụng bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống Asian DQOL.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh trung bình là 77,38 (± 4,66)/100 điểm. Điểm sức khoẻ tinh thần và tài chính ở mức cao (>95/100 điểm); Lĩnh vực sức khỏe thể chất và chế độ ăn ở mức trung bình (khoảng 70/100 điểm), lĩnh vực mối quan hệ cá nhân ở mức thấp 41,81/100 điểm. Phân loại chất lượng cuộc sống theo mức độ 73,5% người bệnh đạt mức “khá, tốt”; còn lại 26,5% ở mức “trung bình khá”.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cho thấy điểm chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh đái tháo đường típ 2 trong nghiên cứu này ở mức khá (77,38/100 điểm), tỷ lệ mức độ chất lượng cuộc sống tổng thể mức khá, tốt cao (73,5%)</p>2025-11-11T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1074Thực trạng kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường có biến chứng bàn chân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông2025-08-20T02:45:32+00:00Thị Nga Đặngnoemail@gmail.comThị Minh Chính Nguyễnnguyenminhchinhsdh@gmail.comThị Hoa Huyền Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh Đái tháo đường có biến chứng bàn chân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 75 Người bệnh đái tháo đường có biến chứng bàn chân đang nằm điều trị tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 12/2024 đến 8/2025. Bộ công cụ đánh giá kiến thức của người bệnh đái tháo đường tham khảo nghiên cứu của Hồ Phương Thúy với độ tin cậy Crobach’s alpha là 0,8267, bao gồm các nội dung: Kiến thức về các nguy cơ của bàn chân đái tháo đường; Kiến thức về chăm sóc bàn chân hàng ngày; Kiến thức về bảo vệ bàn chân tránh tổn thương; Kiến thức về tăng cường tuần hoàn cho chân; Kiến thức về kiểm tra và xử lý các bất thường ở chân.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 17,3% người bệnh đái tháo đường có kiến thức tự chăm sóc bàn chân ở mức tốt, 77,4% ở mức kém và 5,3% ở mức trung bình.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh còn hạn chế, cần bổ sung kiến thức cho người bệnh về các nguy cơ của biến chứng bàn chân, cách kiểm tra, bảo vệ hay chăm sóc bàn chân đúng cách hàng ngày</p>2025-11-12T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1161Diễn biến thay đổi tình trạng lo âu ở sản phụ trước và sau mổ lấy thai tại Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 20252025-11-03T03:50:11+00:00Thị Sinh Hoàngsinh1804@gmail.comThị Duyên Lênoemail@gmail.comThị Lan Annoemail@gmail.comThị Thu Hương Hoàngnoemail@gmail.comThị Hoa Bùinoemail@gmail.comThị Minh Hương Nguyễn noemail@gmail.comThị Nhung Nguyễn noemail@gmail.comPhúc Phóng Nguyễn noemail@gmail.comVăn Linh Nguyễn noemail@gmail.comBá Nha Phạmnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả diễn biến thay đổi tình trạng lo âu của sản phụ trước và sau mổ lấy thai thông qua các hoạt động tư vấn, giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên tại Trung tâm Sản phụ khoa Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Thiết kế mô tả cắt ngang có so sánh trên 248 sản phụ, thu thập thông tin khi sản phụ làm thủ tục mổ lấy thai và khi có chỉ định ra viện. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ STAI-T (State-Trait Anxiety Inventory) gồm 20 câu hỏi để đánh giá tình trạng lo âu, trong đó điểm tối đa là 80 điểm, sản phụ được đánh giá là có lo âu nếu số điểm ≥ 45. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0 với thống kê mô tả xác định tần số và tỷ lệ %, kiểm định T-test ghép cặp và Mc-Nemar để so sánh sự khác biệt giữa hai thời điểm với mức ý nghĩa 5%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ lo âu của sản phụ giảm từ 10,1% trước mổ lấy thai xuống còn 2,0% sau khi mổ lấy thai. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ lo âu ở thời điểm trước và sau khi thực hiện tư vấn – giáo dục sức khỏe của điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên giúp cải thiện tình trạng lo âu của sản phụ.</p>2025-11-13T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1162Một số yếu tố liên quan kết quả chăm sóc bệnh nhi dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai, Hà Nội năm 20252025-11-03T03:45:50+00:00Văn Toàn Phùngphungtoan0912@gmail.comThị Lệ Quyên Nguyễn noemail@gmail.comThu Hằng Đặngnoemail@gmail.comThị Tươi Vũnoemail@gmail.comThị Huyền Hoàngnoemail@gmail.comThị Thanh Bình Phannoemail@gmail.comThị Xuân Mỹ Mainoemail@gmail.comThị Phương Hoàngnoemail@gmail.comMinh Đạt Ngônoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 129 bà mẹ và 129 trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai, Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ gồm 2 phần: phần 1: đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi bị tiêu chảy cấp được thu thập từ hồ sơ bệnh án, và phần 2: bộ câu hỏi phát vấn các bà mẹ để đánh giá về hoạt động chăm sóc trẻ của điều dưỡng viên. Phân tích số liệu trên SPSS 25.0 với bảng biểu mô tả tần số và test Chi-square để tìm hiểu mối liên quan đến kết quả chăm sóc của điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chăm sóc đạt kỳ vọng là 69,8% và chưa đạt kỳ vọng là 30,2%. Có mối liên quan giữa kết quả chăm sóc bệnh nhi tiêu chảy cấp với một số yếu tố: tính chất phân, biểu hiện mất nước, tình trạng dinh dưỡng, bệnh kèm theo và rối loạn điện giải đồ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh viện, phòng điều dưỡng cần tăng cường đào tạo tập huấn để nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc bệnh nhi cho đối tượng điều dưỡng viên. Trong quá trình chăm sóc cho bệnh nhi tiêu chảy cấp cần lưu ý các trẻ có tình trạng có tình trạng mất nước nặng, kích thích/ li bì, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ có bệnh kèm theo và trẻ đã có biểu hiện rối loạn điện giải.</p>2025-11-14T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1133Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng viên Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city2025-09-30T07:58:55+00:00Văn Đông Phạmpvd.2a.1989@gmail.comThị Hằng Nguyễn noemail@gmail.comXuân An Tăngnoemail@gmail.comVăn Chuyên Mainoemail@gmail.comPhúc Phóng Nguyễn noemail@gmail.comVăn Thảo Vũnoemail@gmail.comThị Thu Trầnnoemail@gmail.comQuốc Kham Trầnnoemail@gmail.comThị Hòa Dươngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City và một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 205 điều dưỡng viên, tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2025. Bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng được xác định giá trị kiểm định là I-CVI của tất cả tiểu mục là 0,99 và S-CVI/UA = 0,97, hệ số Kappa là 0,731.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng lần lượt là 82,4%, 91,7%, 86,3%. Điều dưỡng viên có tuổi nghề cao, trình độ học vấn từ đại học trở lên, có kiến thức và thái độ tích cực sẽ có thực hành tốt hơn trong dự phòng phơi nhiễm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng về dự phòng phơi nhiễm chịu ảnh hưởng bởi tuổi, thâm niên, trình độ chuyên môn. Các nhà quản lý và giáo dục điều dưỡng cần quan tâm đến thực trạng này từ đó có các chiến lược can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng.</p>2025-11-14T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1174Nhận thức, sự hài lòng của sinh viên điều dưỡng về phương pháp đóng vai và một số yếu tố liên quan tại Trường Đại học Đại Nam năm 20242025-10-29T07:58:59+00:00Thị Vân Hoàngvanht@dainam.edu.vnQuang Huy Trầnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả nhận thức, sự hài lòng của sinh viên điều dưỡng về phương pháp đóng vai và một số yếu tố liên quan tại Trường Đại học Đại Nam năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 283 sinh viên Điều dưỡng năm thứ 1 đến năm thứ 4 trường Đại học Đại Nam từ tháng 01/11/2024- 30/03/2025, sử dụng thang đo về nhận thức do Dawood, E. và thang đo đánh giá sự hài lòng trong học tập của Cho, Y. H., & Kweon, Y. R.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình nhận thức của sinh viên về phương pháp đóng vai là (3,99 ± 0,55), điểm trung bình các thành tố của thang đo từ 3,89 – 4,01, điểm trung bình hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai khá cao (4,06 ± 0,51). Một số yếu tố liên quan đến nhận thức và sự hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai là: Năm học, thời lượng của một buổi học đóng vai.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Mức độ nhận thức và sự hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai trong quá trình đào tạo có điểm trung bình khá cao. Cần tiếp tục duy trì các môn học đang áp dụng phương pháp học đóng vai và mở rộng ra các môn học khác có thể áp dụng phương pháp này. Nên tập trung vào việc tối ưu hóa thời lượng và nội dung của phương pháp đóng vai để phù hợp với từng năm học, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và sự hài lòng của sinh viên.</p>2025-11-17T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1059Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên đối tượng khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart city2025-10-31T07:09:32+00:00Thị Khuyến Nguyễnkhuyennguyen160992@gmail.comThị Liên Nguyễnv.liennt1@vinmec.comThị Hạnh Đỗv.hanhdt5@vinmec.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng lo âu của khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City” và “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của nhóm đối tượng trên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên khách hàng có chỉ định nội soi đường tiêu hóa gây mê từ tháng 4/2025 đến tháng 7/2025 tại Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City. Mức độ lo âu được đánh giá bằng thang điểm STAI. Kết quả nghiên cứu sử dụng các phân tích mô tả, so sánh tỷ lệ (Chi bình phương và Fisher’s Exact test), các so sánh giá trị trung bình (tương quan Spearman’s rho).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên 76 khách hàng, chủ yếu ở độ tuổi dưới 60 (77,6%), trong đó giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn (57,9%). 51,3% khách hàng đã từng nội soi tiêu hóa. Nguyên nhân phổ biến nhất khiến khách hàng lo âu khi nội soi là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi với tỷ lệ lần lượt là 78,9%, 73,7% và 68,4%. Nguyên nhân giúp khách hàng cảm thấy bớt lo âu khi nội soi phổ biến nhất là đã quen với các thăm dò y khoa và đã tiến hành nội soi trước đó với tỷ lệ lần lượt là 60,5% và 57,9%. Điểm STAI-S và STAI-T trung bình lần lượt là 39,4 ± 8,2 và 35,1 ± 5,1. Mức độ lo âu ở mức trung bình trở lên (STAI-S) chiếm đa số với tỷ lệ 52,6%. Ở thang STAI-T, lo âu ở mức độ cao chiếm tỷ lệ chỉ 3,9%, không lo âu hoặc lo âu mức độ ít chiếm đa số với 72,4%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Có tình trạng lo âu trước khi tiến hành thủ thuật nội soi tiêu hóa có gây mê. Các vấn đề lo lắng chủ yếu là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa. </p>2025-12-02T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1173Một số yếu tố liên quan động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 20232025-12-03T09:10:07+00:00Thanh Nam Nguyễnbido2203@gmail.comThị Hải Dươngnoemail@gmail.comThị Thuần Hànoemail@gmail.comKim Phượng Trầnnoemail@gmail.comThị Phương Đặngnoemail@gmail.comThị Ngọc Nam Nguyễn noemail@gmail.comThị Thảo Nguyễn noemail@gmail.comThị Thanh Hoa Nguyễnnoemail@gmail.comThị Hài Phạmnoemail@gmail.comKim Cúc Nguyễnnoemail@gmail.comDuy Thùy Nguyễnnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2023.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả cắt ngang trên 400 nhân viên y tế có hợp đồng làm việc từ 6 tháng trở lên tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2023. Sử dụng bộ câu hỏi về động lực và sự hài lòng về công việc của nhân viên y tế đã được chuẩn hóa tại Trường Đại học Y tế công cộng. Phân tích số liệu trên SPSS 25.0 với bảng biểu mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm, sử dụng test Chi-square để phân tích mối liên quan với mức ý nghĩa 5%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhân viên có động lực làm việc tốt khá cao (86,7%). Có mối liên quan giữa động lực làm việc của nhân viên y tế và một số yếu tố: tuổi tác, tình trạng hôn nhân, là thu nhập chính trong gia đình, trình độ chuyên môn, thâm niên, loại hình hợp đồng, sự hài lòng về điều kiện làm việc và hài lòng về cấp trên, đồng nghiệp và hài lòng về thu nhập.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nhân viên y tế đang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City có tỷ lệ động lực làm việc tốt khá cao. Bệnh viện cần duy trì tốt tỷ lệ này, đồng thời cần quan tâm, lắng nghe mong muốn của nhân viên y tế và sẵn sàng điều chỉnh điều kiện làm việc cho phù hợp.</p>2025-12-10T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1096Thực trạng chất lượng cuộc sống trong công việc của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Cửa Đông năm 20252025-12-02T00:47:58+00:00Thị Lệ Xuân Nguyễnnguyenlexuan1985@gmail.comThị Thuận Nguyễnthuannguyenyt139@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả chất lượng cuộc sống trong công việc của điều dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Cửa Đông năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 điều dưỡng/hộ sinh/kỹ thuật y có thâm niên ≥ 6 tháng. Bộ công cụ QNWL của Brooks (2004) được sử dụng để thu thập dữ liệu; phân tích bằng SPSS 20.0 với thống kê mô tả và kiểm định Chi-square.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình chất lượng cuộc sống trong công việc chung là 197,09 ± 20,49 tương ứng với 81,5% điều dưỡng ở mức cao. Khía cạnh “Môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp” có tỷ lệ mức cao (97,8%), tiếp theo là “Đặc thù công việc” (83,7%). Giới tính (p = 0,027) và khoa làm việc (p = 0,028) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống trong công việc.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số điều dưỡng có chất lượng cuộc sống trong công việc ở mức cao. Bệnh viện cần tăng cường các giải pháp hỗ trợ cân bằng công việc cuộc sống và điều chỉnh chính sách theo đặc thù từng khoa để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc sống nghề nghiệp cho đội ngũ điều dưỡng.</p>2025-12-12T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1175Mối liên quan giữa mất ngủ với vị trí tổn thương và di chứng chức năng sau đột quỵ nhồi máu não tại Bệnh viện Quân y 1032025-10-31T02:09:34+00:00Thế Hà Phandrhaphan87@gmail.comMinh Tuân Trầnnoemail@gmail.comTuấn Anh Trươngnoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ mất ngủ và mối liên quan giữa mất ngủ với vị trí tổn thương và di chứng của người bệnh sau đột quỵ nhồi máu não tại Bệnh viện Quân Y 103.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 103 người bệnh nhồi máu não điều trị tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ 6/2023 đến 7/2024. Mất ngủ được chẩn đoán theo DSM-V, vị trí tổn thương xác định bằng cộng hưởng từ sọ não 1.5 Tesla, di chứng đánh giá bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS), và hội chứng chân không yên chẩn đoán theo IRLSSG (2014). Phân tích dữ liệu bằng SPSS 25.0 với thống kê mô tả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Mất ngủ có liên quan có ý nghĩa với tổn thương thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm và vùng bao trong (p < 0,05). Nhóm mất ngủ có điểm mRS trung bình cao hơn (2,35 ± 1,19 so với 1,47 ± 0,88) và tỷ lệ đau sau đột quỵ, hội chứng chân không yên cao hơn rõ rệt (p < 0,05). Phân tích hồi quy cho thấy tổn thương vùng bao trong (OR = 16,03), đau sau đột quỵ (OR = 5,23) và hội chứng chân không yên (OR = 29,65) là các yếu tố liên quan độc lập (p < 0,01).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Mất ngủ là di chứng thường gặp sau đột quỵ, đặc biệt ở người bệnh có tổn thương vùng bao trong, đau hoặc hội chứng chân không yên. Cần tầm soát và can thiệp sớm rối loạn giấc ngủ trong chương trình phục hồi nhằm nâng cao chất lượng sống người bệnh.</p>2025-12-18T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1171Hoạt động chăm sóc người bệnh thở máy xâm nhập tại Trung tâm Cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai năm 20242025-12-19T00:39:43+00:00Thị Yến Nguyễnyennguyen0391@gmail.comThanh Hương Lênoemail@gmail.comNăng Quyền Dươngnoemail@gmail.comThị Thu Hà Nguyễn noemail@gmail.comHồng Toàn Bùinoemail@gmail.comTrí Nhân Vũnoemail@gmail.comThị Hân Nguyễn noemail@gmail.comThị Thu Hiền Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả hoạt động chăm sóc điều dưỡng người bệnh thở máy xâm nhập tại Trung tâm Cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 150 người bệnh thở máy xâm nhập điều trị tại Trung tâm Cấp cứu A9 từ tháng 02 đến tháng 08 năm 2024. Số liệu được thu thập bằng bộ công cụ do nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên Thông tư 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế; bộ công cụ có độ tin cậy tốt với hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,817. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Kết quả chăm sóc chung cho thấy 77,3% người bệnh được chăm sóc ở mức tốt và 22,7% ở mức chưa tốt. Hầu hết các hoạt động chăm sóc điều dưỡng đạt tỷ lệ thực hiện tốt (≥ 80%) vào ngày điều trị thứ 7, bao gồm theo dõi dấu hiệu sinh tồn, chăm sóc đường thở, theo dõi máy thở, điều chỉnh thuốc an thần, phòng ngừa tai biến và tư vấn cho gia đình người bệnh. Một số hoạt động như vệ sinh vùng đáy chậu và chăm sóc vết loét còn chưa đạt mức tối ưu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hoạt động chăm sóc điều dưỡng người bệnh thở máy xâm nhập tại Trung tâm Cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai nhìn chung được thực hiện tốt, tuy nhiên vẫn còn một số nội dung cần được cải thiện để nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện. Cần tăng cường đào tạo, giám sát và chuẩn hóa thực hành chăm sóc điều dưỡng theo các gói chăm sóc chuẩn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giảm biến chứng ở người bệnh thở máy xâm nhập.</p>2025-12-25T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng