https://jns.vn/index.php/journal/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2026-03-19T02:31:48+00:00Tạp chí Khoa học Điều dưỡngjns@ndun.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1228Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương2025-12-31T03:20:09+00:00Thị Thu Hương Phạmhuong.phamthithu@phenikaa-uni.edu.vnThị Lan Anh Mainoemail@gmail.comThị Thu Hương Phạmnoemail@gmail.comThị Thảo Nguyễn noemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2024 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang trên 250 người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng hai bộ công cụ: EORTC QLQ-C30 và THYCA-QoL. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 20.0 với các thống kê mô tả và so sánh nhóm.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm chức năng theo EORTC QLQ-C30 rất cao (thể chất 96,4; vai trò 99,46; cảm xúc 96,96), trong khi các triệu chứng nhìn chung thấp, nổi bật là mất ngủ (19,46) và mệt mỏi (6,8). Theo THYCA-QoL, các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm tâm lý (4,12), họng–miệng (4,12) và thần kinh–cơ (3,50); trong khi các nhóm sẹo, ngứa, đau đầu, lạnh và tình dục hầu như không bị ảnh hưởng. Phân tích liên quan cho thấy giai đoạn bệnh ảnh hưởng có ý nghĩa đến CLCS (p = 0,007).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp có chất lượng cuộc sống chung tốt, nhưng vẫn gặp nhiều triệu chứng đặc thù. Giai đoạn bệnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống . Cần tăng cường hỗ trợ tâm lý, chăm sóc giọng nói và quản lý triệu chứng vùng cổ–họng trong chăm sóc điều dưỡng sau phẫu thuật.</p>2026-02-27T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1158Chất lượng cuộc sống người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 20252026-01-08T09:23:47+00:00Minh Đức ChửChuminhduc171@gmail.comBá Hải Phannoemail@gmail.comMai Hồng Nguyễn noemail@gmail.comThanh Trà Nguyễn noemail@gmail.comThị Thuê Phùngnoemail@gmail.comThị Trang Vũnoemail@gmail.comĐức Tiến Phạmnoemail@gmail.comVăn Bảy Nguyễn noemail@gmail.comThanh Duyên Phạmnoemail@gmail.comThị Quỳnh Trang Nguyễn noemail@gmail.comThị Ngân Đàonoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2025.</p> <p><strong>Thiết kế nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu dọc, trên 130 người bệnh được phẫu thuật thay khớp háng tại Viện Chấn thương Chỉnh hình - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ 01/2025 đến 06/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc tại hai thời điểm là 2 tuần và 4 tuần sau phẫu thuật, chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang đo SF-12. Thống kê mô tả được áp dụng mô tả đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng và điểm số QoL.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình ở tất cả các khía cạnh của thang SF-12 đều tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), trong đó sức khỏe thể chất tăng từ 22,08 ± 6,91 lên 46,41 ± 17,31 điểm, sức khỏe tinh thần cải thiện từ 43,20 ± 11,18 lên 57,62 ± 16,75 điểm, và tổng điểm SF-12 tăng từ 32,64 ± 8,26 lên 52,02 ± 16,56 điểm. Về mức phân loại, 2 tuần sau phẫu thuật đa số người bệnh ở mức rất kém (46,9%) hoặc kém (33,1%), trong khi sau 4 tuần phẫu thuật tỷ lệ đạt mức tốt (16,9%) và rất tốt (33,1%).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo cải thiện rõ rệt trong 4 tuần đầu, đặc biệt ở sức khỏe thể chất, với tỷ lệ đạt mức tốt và rất tốt tăng đáng kể so với thời điểm 2 tuần sau phẫu thuật.</p>2026-03-03T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1211Đánh giá sự hài lòng của người bệnh khám ngoại trú tại Bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân năm 20252026-01-06T02:02:10+00:00Thị Kim Ngân Hoàngnganyenchi1389@gmail.comKhánh Huyền Nguyễn noemail@gmail.comKiều Anh Đàonoemail@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá sự hài lòng của người bệnh khám ngoại trú tại Bệnh viện mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân trong năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 1080 bệnh nhân ngoại trú từ 18 tuổi trở lên, đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2025. Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện. Biến số sự hài lòng được đánh giá trên thang Likert từ 1-5 điểm. Thu thập số liệu qua phỏng vấn bằng phiếu khảo sát, nhập liệu bằng Epidata 3.1, các phân tích được thực hiện bằng phần mềm Stata 13.0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kết quả nghiên cứu cho thấy 82,9% người bệnh hài lòng với dịch vụ khám, chữa bệnh ngoại trú. Một số nội dung được đánh giá hài lòng ở mức cao: Nhân viên y tế tiếp đón, hướng dẫn người bệnh làm các thủ tục niềm nở, tận tình (4,45 ± 0,55); Khu khám bệnh bảo đảm an ninh, trật tự, phòng ngừa trộm cắp cho người dân (4,50 ± 0,52); Kết quả khám bệnh đã đáp ứng được nguyện vọng của người bệnh (4,63 ± 0,59). Ngược lại, tỷ lệ hài lòng ở người bệnh thấp hơn với một số tiêu chí như: khả năng tiếp cận thông tin (3,82 ± 0,84); Thời gian chờ nhận kết quả xét nghiệm, chiếu chụp (3,58 ± 0,99). Một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh về kết quả khám chữa bệnh là: tuổi, số lần đi khám, thời gian đi khám và sự tin tưởng khi đi khám bệnh.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phần lớn người bệnh hài lòng khi tới khám, chữa bệnh ngoại trú tại khoa khám bệnh, bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân, chiếm gần 83% số lượng đối tượng khảo sát. Tuy nhiên, vẫn cần có những biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân khi đến khám và điều trị trong ngày, và cần lưu ý các đối tượng người bệnh tuổi cao, số lần đi tái khám nhiều lần, và đối tượng quan tâm tìm hiểu nguồn thông tin trước khi đi khám</p>2026-03-04T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://jns.vn/index.php/journal/article/view/1235Kiến thức về phòng sốt xuất huyết dengue ở người trưởng thành phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan2026-03-19T02:31:48+00:00Kiều Anh Đàonoemail@gmail.comQuang Anh Nguyễn noemail@gmail.comThị Hải Yến Trầnnoemail@gmail.comKim Cúc Nguyễn noemail@gmail.comThị Mai Anh Trầnnoemail@gmail.comMinh Đạt Ngôminhdatdhtl@gmail.com<p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả kiến thức về phòng sốt xuất huyết Dengue ở người trưởng thành phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt trên 349 người từ 18 tuổi trở lên, sống tại phường Đồng Nhân từ tháng 01 đến tháng 07/2025. Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo độ tuổi và giới tính. Thu thập số liệu qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, nhập liệu bằng excel và xứ lý số liệu bằng SPSS 20.0.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 69,3% người đạt kiến thức chung về phòng sốt xuất huyết Dengue. Nhóm tuổi 31–60 tuổi có kiến thức đạt cao hơn so với nhóm 18-30 tuổi (OR = 2,3), người có trình độ đại học trở lên có kiến thức đạt cao hơn so với nhóm có trình độ THCS (OR = 25,7), công chức/viên chức có kiến thức đạt cao hơn so với học sinh/sinh viên (OR = 31,9), một số nhóm nghề khác như lao động tự do (OR = 2,1) và hưu trí (OR = 3,2) cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Đối tượng có tiếp xúc với nguồn thông tin từ Internet/Mạng xã hội, truyền thông đại chúng (đài/tivi), nhân viên y tế, truyền thông địa phương, và báo/ tạp chí đều có kiến thức đạt cao hơn so với người không tiếp xúc.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức đạt về sốt xuất huyết Dengue ở cộng đồng ở mức khá. Cần tăng cường truyền thông, giáo dục sức khoẻ và các chiến dịch cộng đồng để cải thiện hành vi phòng bệnh.</p>2026-03-06T00:00:00+00:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng