Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://jns.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br />DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632<br /></strong><br />Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học &amp; công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p> Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định vi-VN Tạp chí Khoa học Điều dưỡng 2615-9589 Đánh giá tình trạng lo âu và trầm cảm của các cặp vợ chồng thực hiện IVF và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/509 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định mức độ lo âu, trầm cảm của người thực hiện IVF và phân tích một số yếu tố liên quan tại tại Bệnh viện Vinmec Times City năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Sử dụng bộ câu hỏi HADS khảo sát trình trạng lo âu và trầm cảm trên 128 người thực hiện IVF, qua đó đánh giá một số yếu tố liên quan tới tình trạng lo âu và trầm cảm.</p> <p><strong>Kết quả :</strong> Tỷ lệ người tham gia lo âu là 14,8%; trầm cảm là 17,2%. Các yếu tố làm tăng nguy cơ lo âu của người thực hiện IVF là: độ tuổi ≥ 30 tuổi (OR = 10,2; 95%CI = 3,1 – 34,1), tình trạng vô sinh nguyên phát (OR = 2,85; 95% CI = 1,9 – 8,3), chưa từng thực hiện IVF (OR = 7,5; 95%CI = 1,5 – 36,0). Các yếu tố làm tăng nguy cơ trầm cảm là độ tuổi độ tuổi ≥ 30 tuổi (OR = 8,5; 95%CI = 2,8 – 25,8), tình trạng vô sinh nguyên phát (OR = 6,5; 95%CI = 3,1 – 8,5).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các yếu tố làm tăng nguy cơ lo âu và trầm cảm của người thực hiện IVF là: Độ tuổi, tình trạng vô sinh nguyên phát, chưa từng thực hiện IVF. </p> Kim Oanh Đinh Thị Như Nguyệt Lê Vũ Hà Nguyễn Thị Bích Hồng Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-10-04 2022-10-04 5 04 6 12 10.54436/jns.2022.04.509 Kiến thức, thái độ và thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của sinh viên Trường Cao đẳng Y dược Hà Nội năm 2021-2022 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/521 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành tiêm an toàn và phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành tiêm an toàn của sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm 2 của Trường Cao đẳng Y Dược Hà Nội.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 125 sinh viên học cao đẳng điều dưỡng năm 2 của Trường Cao đẳng Y Dược Hà Nội từ tháng 3/2022- 6/2022.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sinh viên đạt kiến thức, thái độ và thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn tương ứng với tỷ lệ 72%; 85,6% và 69,6%. Sinh viên có kiến thức tiêm tĩnh mạch an toàn thực hiện được mũi tiêm tĩnh mạch an toàn cao gấp 8,67 lần so với sinh viên không đạt kiến thức tiêm an toàn sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,01. Sinh viên có thái độ tiêm an toàn tốt và có kiến thức tiêm an toàn cao gấp 11,9 lần so với không có thái độ tiêm an toàn tốt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,01. Sinh viên có thái độ tiêm an toàn tốt thực hiện được mũi tiêm an toàn cao gấp 9,9 lần so với thái độ tiêm tĩnh mạch an toàn không tốt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,05.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu chỉ ra phần lớn sinh viên đạt kiến thức, thái độ và thực hành được mũi tiêm an toàn. Đồng thời chỉ ra mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành tiêm an toàn. Từ đó thấy được có kiến thức thì sinh viên mới tự tin trong thực hành và có thái độ đúng về tiêm an toàn hay kiến thức chính là nền tảng, là cơ sở để sinh viên có thái độ và thực hành đúng trên thực tế lâm sàng.</p> Thị Vui Phạm Thị Nguyệt Nguyễn Thị Anh Đặng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-10-05 2022-10-05 5 04 13 23 10.54436/jns.2022.04.521 Thực trạng năng lực cốt lõi của Điều dưỡng trưởng khoa tại các Bệnh viện tỉnh Thái Bình năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/510 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng năng lực cốt lõi và phân tích một số yếu tố liên quan đến năng lực cốt lõi của điều dưỡng trưởng khoa tại các bệnh viện tỉnh Thái Bình năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 233 điều dưỡng trưởng khoa đang công tác tại 20 bệnh viện trong tỉnh Thái Bình từ tháng 1/2021 đến tháng 6/2021.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điều dưỡng trưởng khoa tự đánh giá năng lực ở các mức thấp, trung bình, cao và rất cao với tỷ lệ lần lượt là: 1,7%, 20,2%, 59,7%, 18,5%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với năng lực cốt lõi của điều dưỡng trưởng bao gồm: độ tuổi, tuyến bệnh viện, loại bệnh viện theo quyền sở hữu, thời gian giữ chức vụ quản lý.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số điều dưỡng trưởng khoa của các bệnh viện tỉnh Thái Bình có năng lực tốt (78,2% có năng lực đạt mức cao và rất cao). Tuyến bệnh viện và thời gian giữ chức vụ quản lý là những yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với năng lực cốt lõi của điều dưỡng trưởng khoa. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần chú ý nâng cao năng lực cốt lõi cho điều dưỡng trưởng khoa ở các bệnh viện tuyến huyện và những điều dưỡng trưởng có thâm niên quản lý ngắn.</p> Thị Thanh Hiền Phạm Văn Đẩu Vũ Lệ Quyên Mai Thị Hương Trần Thị Nguyệt Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-10-24 2022-10-24 5 04 24 33 10.54436/jns.2022.04.510 Thực trạng kiến thức sử dụng thuốc chống đông đường uống của người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/522 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá thực trạng kiến thức sử dụng thuốc chống đông đường uống của người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 84 người bệnh được chẩn đoán rung nhĩ không do bệnh van tim được điều trị dự phòng huyết khối tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021. Kiến thức của người bệnh được đánh giá bằng bộ câu hỏi kiến thức về thuốc kháng đông đường uống của Obamiro, gồm 20 tiêu chí.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong 20 tiêu chí cứu được sử dụng để đánh giá kiến thức của người bệnh thì tiêu chí “phải uống thuốc một cách chính xác đúng như y lệnh của bác sĩ đã dặn dò” và tiêu chí “ba điều cần làm để giảm nguy cơ bị các tác dụng phụ của thuốc” có tỉ lệ nhận thức đúng rất thấp trong nghiên cứu (16,6% và 14,2%). Đánh giá thực trạng nhận thức đúng của người bệnh uống thuốc kháng Vitamin K: chỉ có 34,1% người bệnh biết được khoảng INR mục tiêu, các tiêu chí đánh giá nhận thức khác, kết quả cũng dao động từ 52% đến 88%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa hai nhóm dùng thuốc kháng vitamin K và nhóm NOACs.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức đúng của người bệnh liên quan đến thuốc chống đông có kết quả trả lời đúng rất thấp; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa hai nhóm.</p> Ngọc Quân Nguyễn Việt Đức Đặng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-10-24 2022-10-24 5 04 34 43 10.54436/jns.2022.04.522 Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thay đổi lối sống tại nhà của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Phú Hoà - tỉnh Phú Yên https://jns.vn/index.php/journal/article/view/512 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả kiến thức, thực hành thay đổi lối sống tại nhà của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú và xác định một số yếu tố liên quan tại Trung tâm y tế huyện Phú Hoà – tỉnh Phú Yên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đã được thực hiện với cỡ mẫu 132 người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế huyện Phú Hoà – tỉnh Phú Yên từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về thay đổi lối sống tại nhà là 75%. Tỷ lệ người bệnh thực hành đạt về thay đổi lối sống của người bệnh THA đang điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Phú Hoà là 48,5%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt cao, tuy nhiên thực hành đạt còn thấp. Cần có những can thiệp để thay đổi thực hành chưa đúng của người bệnh.</p> Thị Lan Vi Hồ Văn Hoan Trịnh Văn Cường Phạm Thị Hòa Hoàng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-10-24 2022-10-24 5 04 44 59 10.54436/jns.2022.04.512 Đánh giá năng lực thực hành dựa vào bằng chứng (EBP) của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Duy Tân https://jns.vn/index.php/journal/article/view/499 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá năng lực Thực hành dựa vào bằng chứng (EBP) của sinh viên điều dưỡng, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rào cản và tìm hiểu các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 134 sinh viên trường Đại học Duy Tân từ tháng 11/2021 đến tháng 1/2022. Bộ công cụ gồm 3 phần: đặc điểm nhân khẩu học, thang đánh giá năng lực EBP và thang đánh giá các mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rào cản.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sinh viên có năng lực tự nhận thức về EBP là 3,67 ± 0,49. Các yếu tố rào cản ảnh hưởng quan trọng nhất đến kỹ năng EBP là thiếu thời gian và thiếu sự quan tâm thích thú. Điểm trung bình kiến thức, thái độ và kỹ năng EBP có sự khác biệt với đặc điểm nhân khẩu học như năm học, xếp loại học lực, học/tham gia tập huấn về EBP, tần suất sử dụng internet, trình độ tiếng Anh (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Năng lực thực hành dựa vào bằng chứng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Duy Tân khá cao. Tuy nhiên, vẫn còn các rào cản ảnh hưởng đến việc áp dụng EBP của sinh viên, đây cũng là thách thức đối với các nhà giáo dục điều dưỡng cần đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình giáo dục điều dưỡng. </p> Thị Ngọc Bích Dương Thị Thanh Hương Nguyễn Thủy Tiên Dương Lê Nhật Mai Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-10 2022-11-10 5 04 60 69 10.54436/jns.2022.04.499 Thực trạng đào tạo tiếng nhật cho điều dưỡng viên, hộ lý người Việt Nam đi Nhật Bản làm việc https://jns.vn/index.php/journal/article/view/525 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá thực trạng đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng và hộ lý Việt Nam đi làm việc tại Nhật Bản.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu trên đối tượng điều dưỡng và hộ lý từ năm 2012 đến năm 2019.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 99% các ứng viên luyện tập trong giáo trình『みんなの日本語. Khi ôn tập, đa số học viên sử dụng giáo trình 漢字マスター (giáo trình dành cho luyện thi năng lực tiếng Nhật) chiếm 73,9% còn lại là Giáo trình みんなの日本語 (MinnanoNihongo), かんじマスター (Kanji Masuta-). 82% ứng viên tham gia khảo sát chú trọng luyện tập cả cách đọc và viết chữ Hán. Thời gian tự học của học viên trong khoảng từ 1-4 tiếng chiếm từ 42,7% đến 45,5%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Ngoài vấn đề liên quan đến các môn học, kĩ năng, xây dựng kế hoạch tự học cũng là một trong những điểm yếu của ứng viên điều dưỡng, hộ lý Việt Nam. Trình độ tiếng Nhật của giáo viên người Việt Nam công tác tại các cơ quan phái cử thực tập sinh, dự án EPA còn thấp và chưa đồng đều: 33,3% giáo viên đạt trình độ N1, 66,7% đạt trình độ N2.</p> Quốc Thắng Đinh Quỳnh Liên Phạm Duy Dũng Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-10 2022-11-10 5 04 70 78 10.54436/jns.2022.04.525 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2022 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/532 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2022.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 89 người bệnh suy tim mạn điều trị nội trú tại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Sử dụng bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim Minnesota Living with Heart Failure Questionnaire để thu thập số liệu từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2022.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Đa số người bệnh có chất lượng cuộc sống mức độ thấp 89,9% . Người bệnh nữ có chất lượng cuộc sống tổng thể, thể chất và tinh thần kém hơn người bệnh nam; nhóm người bệnh suy tim độ I, II có chất lượng cuộc sống cao hơn người bệnh suy tim độ III, IV, nhóm người bệnh có biểu hiện trầm cảm nhẹ có chất lượng cuộc sống cao hơn so với người bệnh có biểu hiện trầm cảm vừa và nặng, người bệnh nhận được hỗ trợ xã hội cao có chất lượng cuộc sống cao hơn so với hai nhóm người bệnh còn lại.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Các yếu tố có liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim trong phạm vi nghiên cứu bao gồm giới tính, phân độ suy tim, mức độ biểu hiện trầm cảm và mức độ hỗ trợ xã hội.</p> Thị Hải Lý Trần Huy Hoàng Ngô Thị Thùy Dung Đỗ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-14 2022-11-14 5 04 79 90 10.54436/jns.2022.04.532 Đánh giá thay đổi tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Thành phố Yên Bái sau giáo dục sức khỏe https://jns.vn/index.php/journal/article/view/528 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá sự thay đổi tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe trên một nhóm có so sánh trước và sau can thiệp với cỡ mẫu là 96 người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Thành phố Yên Bái từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2022.</p> <p><strong> Kết quả</strong>: Trước can thiệp, tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh còn hạn chế với điểm trung bình đạt 51,9 ± 12,3 điểm trên tổng số 76 điểm. Sau can thiệp, tuân thủ điều trị tăng huyết áp đã được cải thiện rõ rệt đạt 65,6 ± 9,7 điểm sau 1 tháng và còn duy trì ở 68,8 ± 8,2 điểm sau can thiệp 2 tháng (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh còn hạn chế tại thời điểm trước can thiệp nhưng đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc thường xuyên giáo dục sức khỏe cho người bệnh về tuân thủ điều trị trong điều trị bệnh tăng huyết áp.</p> Thị Thúy Nguyễn Huy Hoàng Ngô Bích Hằng Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-15 2022-11-15 5 04 91 100 10.54436/jns.2022.04.528 Kiểm tra tính giá trị và độ tin cậy bộ câu hỏi đánh giá tình trạng mệt mỏi phiên bản Việt Nam https://jns.vn/index.php/journal/article/view/507 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Kiểm tra tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi đánh giá tình trạng mệt mỏi (burnout) ở điều dưỡng phiên bản Việt Nam.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: 220 điều dưỡng/hộ sinh tham gia vào nghiên cứu này. Đánh giá-đánh giá lại độ tin cậy với 120 điều dưỡng đã tham gia lần hai sau 2 tuần. Kiểm tra tính giá trị về nội dung, 05 chuyên gia điều dưỡng đánh giá thông qua chỉ số hiệu lực nội dung của các câu hỏi (I-CVI) và chỉ số hiệu lực nội dung/trung bình (S-CVI/Ave).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Chỉ số độ tin cậy trong Cronbach α là 0,85 với mệt mỏi về cảm xúc (EE), 0,92 với tính tiêu cực (DP), 0,95 với hiệu quả cá nhân (PA). Đánh giá-đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số tương quan nội bộ nhóm (ICC) là 0,84 với EE, 0,92 với DP, và 0,96 với PA. Kiểm tra tính giá trị về nội dung, chỉ số I-CVIs từ 0,8 tới 1, chỉ số S-CVI/Ave là 0,9.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Bộ câu hỏi về Burnout phiên bản Việt Nam có tính giá trị về nội dung và độ ổn định tốt, thích hợp cho việc đánh giá mức độ burnout ở điều dưỡng.</p> Văn Trường Phạm Thị Phương Lan Nguyễn Phương Hồng Nguyễn Xuân Đại Lê Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-18 2022-11-18 5 04 101 109 10.54436/jns.2022.04.507 Tỷ lệ và nguyên nhân sai sót thuốc trong thực hành lâm sàng theo nhận thức của sinh viên cử nhân điều dưỡng năm 4 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch https://jns.vn/index.php/journal/article/view/527 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định tỷ lệ sai sót thuốc của sinh viên Cử nhân Điều dưỡng trong thực hành lâm sàng, loại sai sót thuốc thường gặp và nguyên nhân sai sót thuốc theo nhận thức của sinh viên Cử nhân Điều dưỡng năm 4.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 112 sinh viên Cử nhân Điều dưỡng năm cuối niên khóa 2018-2022 của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng phạm sai sót thuốc trong quá trình thực hành lâm sàng là 18,8%. 05 loại sai sót thuốc thường gặp của sinh viên Điều dưỡng trong quá trình thực hành lâm sàng theo nhận thức của sinh viên gồm: Theo dõi bệnh nhân không đầy đủ sau khi dùng thuốc (78,6%); chuẩn bị thuốc sai kỹ thuật (60,7%); sai khoảng cách thời gian giữa các lần dùng thuốc (58,9%); sai liều lượng (55,4%) và bỏ qua liều thuốc (50,9%). Nhận thức của sinh viên về các nguyên nhân dẫn đến sai sót thuốc thường gặp gồm nguyên nhân cá nhân: Thiếu kiến thức về thuốc (3,88 ± 0,87); thiếu kinh nghiệm (3,88 ± 0,85); ngủ không đủ giấc (3,88 ± 0,78); căng thẳng (3,88 ± 0,77); thực hành quy trình dùng thuốc tại khoa lâm sàng khác so với thực hành dùng thuốc khi học (3,62 ± 0,98) và nguyên nhân hệ thống: Y lệnh không rõ ràng (chữ viết tay không đọc được) (3,96 ± 0,83); thuốc khác nhau có tên gọi gần giống nhau (3,87 ± 0,79); quá tải công việc (3,86 ± 0,84); thuốc có hình dạng giống nhau (3,85 ± 0,79) và trường hợp khẩn cấp (3,62 ± 0,98).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Có 18,8% sinh viên Điều dưỡng có phạm sai sót thuốc trong quá trình thực hành lâm sàng theo nhận thức của sinh viên. Một số nguyên nhân dẫn đến sai sót thuốc theo nhận thức của sinh viên thuộc nguyên nhân cá nhân và hệ thống. Nhà Trường và cơ sở thực hành lâm sàng cần có các giải pháp hữu hiệu để khắc phục các nguyên nhân thường gặp dẫn đến sai sót thuốc của sinh viên Điều dưỡng</p> Thị Mỹ Trinh Phan Thị Hà Đỗ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-23 2022-11-23 5 04 110 123 10.54436/jns.2022.04.527 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định https://jns.vn/index.php/journal/article/view/538 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2022.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 theo SGA: Có 81,6% người bệnh có tình trạng dinh dưỡng SGA A, 18,4% người bệnh có tình trạng dinh dưỡng SGA B, 0% người bệnh có tình trạng dinh dưỡng SGA C. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, với tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường theo SGA (p &gt; 0,05). Thói quen ăn uống, hút thuốc lá, hoạt động thể chất, khẩu phần ăn 24h có mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Đa số người bệnh có tình trạng dinh dưỡng tốt (81,6%). Cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền, tư vấn cho người bệnh đái tháo đường về chế độ dinh dưỡng bệnh lý, hành vi lối sống.</p> Thanh Tịnh Dương Thị Minh Chính Nguyễn Thị Hà Lại Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-11-23 2022-11-23 5 04 124 133 10.54436/jns.2022.04.538