Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://jns.vn/index.php/journal <p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học &amp; công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p> Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định vi-VN Tạp chí Khoa học Điều dưỡng 2615-9589 Tuân thủ điều trị trong lĩnh vực điều dưỡng: Phân tích khái niệm https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1053 <p>Sự tuân thủ điều trị ở người bệnh là yếu tố hết sức quan trọng để cải thiện tình trạng sức khỏe, tăng cường chất lượng cuộc sống, đặc biệt trong việc quản lý điều trị các bệnh lý mãn tính, phục hồi sau chấn thương, sau phẫu thuật.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Phân tích khái niệm tuân thủ điều trị.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Việc phân tích được thực hiện theo phương pháp Walker và Avant qua bốn cơ sở dữ liệu là PubMed, Google Scholar, CINAHL Database, Cochrane (từ năm 2000 đến 2025).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Từ tài liệu, tổng hợp “tuân thủ điều trị” là khả năng thực hiện theo các khuyến nghị, khuyến cáo của nhân viên y tế, điều này dựa vào thực hành tự chăm sóc và sự sẵn hợp tác của người bệnh. Có bốn thuộc tính của khái niệm gồm: (1) hành vi tự chăm sóc, (2) thực hiện theo các khuyến nghị về sức khỏe, (3) sẵn sàng hợp tác và (4) giao tiếp với nhân viên y tế. Tiền đề là: đặc điểm của phác đồ, việc truyền đạt lời khuyên tư vấn và thái độ của người bệnh với lời khuyên tư vấn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Định nghĩa mới về tuân thủ được đưa ra trong phân tích khái niệm này cung cấp sự rõ ràng và định hướng cho việc tìm hiểu nâng cao vấn đề thực hành điều dưỡng trong tương lai. Hơn nữa, nghiên cứu này giúp nâng cao nhận thức của điều dưỡng về nhu cầu giao tiếp hiệu quả với người bệnh để tăng hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ phát triển biến chứng sớm và tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.</p> Thanh Hà Lê Tuấn Anh Lương Thị Thu Huyền Lại Thị Thu Hương Trần Thị Hồng Phạm Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-28 2025-10-28 8 06 6 14 10.54436/jns.2025.06.1053 Động lực làm việc của nhân viên y tế tại bệnh viện Bắc Thăng Long, Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1089 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá mức độ động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Bắc Thăng Long, Hà Nội năm 2024 và xác định một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 300 nhân viên y tế đáp ứng tiêu chí chọn mẫu. Động lực làm việc được đo lường bằng bảng hỏi xây dựng dựa trên thuyết hai nhân tố của Herzberg với thang đo Likert năm mức; quy ước “có động lực” khi điểm trung bình từ 3,75 trở lên.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhân viên y tế được đánh giá “có động lực” đạt 79,7%. Điểm trung bình động lực chung 4,14 trên 5; các thành phần có điểm cao gồm trách nhiệm với công việc (4,25) và bản chất công việc (4,24); sự thừa nhận thành tích thấp nhất (3,99). Nhóm từ 35 tuổi trở lên có động lực cao hơn nhóm dưới 35 tuổi (84,8% so với 67,4%; OR: 0,370; 95%CI: 0,207–0,662). Nhóm đã kết hôn có động lực cao hơn nhóm độc thân (83,6% so với 45,2%; OR: 0,161; 95%CI: 0,074–0,350). Không thấy khác biệt về động lực làm việc theo giới và trình độ học vấn.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Động lực làm việc của nhân viên y tế tại bệnh viện tuyến thành phố ở mức cao, nổi bật ở các yếu tố mang tính nội tại (trách nhiệm và bản chất công việc) nhưng còn khoảng trống về cơ chế thừa nhận thành tích. Các ưu tiên can thiệp gồm: thể chế hóa ghi nhận và khen thưởng theo nhiều tầng, tăng cường giám sát hỗ trợ, tối ưu các yếu tố điều kiện vệ sinh công việc, và cá thể hóa hỗ trợ theo nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân.</p> Thị Bình Minh Dương Thị Nguyên Lưu Thanh Tâm Bùi Thị Lan An Hoài Thu Nguyễn Thị Nhung Tiêu Thị Thu Hương Hoàng Thị Hạnh Nguyễn Thị Trang Lê Lan Hương Hoàng Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-28 2025-10-28 8 06 15 22 10.54436/jns.2025.06.1089 Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc trẻ mắc bệnh cúm mùa tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times city https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1157 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc trẻ mắc bệnh cúm mùa tại Bệnh viện Đa khoa Vinmec Times City.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán mắc cúm mùa điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 02 năm 2022. Sử dụng thông tin từ hồ sơ bệnh án để thu thập tình trạng lâm sàng và bộ câu hỏi phát vấn để đánh giá về công tác chăm sóc trẻ của điều dưỡng. Phân tích số liệu trên phần mềm SPSS 25.0 với bảng biểu mô tả tần số và tỷ lệ %, sử dụng test Chi-square để phân tích yếu tố liên quan giữa một số yếu tố và kết quả chăm sóc.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chăm sóc tốt đạt 81,5%, thời gian điều trị trung bình là 3,8 ± 1,7 ngày, có mối liên quan giữa tuổi của trẻ, tình trạng sốt và rối loạn tiêu hóa khi nhập viện với kết quả chăm sóc điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả chăm sóc tốt chiếm 81,5% và tỷ lệ chăm sóc chưa tốt là 18,5%. Trong chăm sóc trẻ mắc cúm mùa cần quan tâm, chú ý những trẻ dưới 5 tuổi, có tình trạng sốt cao/rất cao; bệnh nhi có kèm theo tiêu chảy hoặc nôn, trớ.</p> Thị Thuần Hà Thị Thu Thủy Phí Thị Lượng Trần Thị Huyền Hoàng Thị Phương Đặng Thị Thanh Nhàn Vũ Văn Thành Phạm Thị Hiền Trịnh Thị Tươi Vũ Thanh Nam Nguyễn Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-28 2025-10-28 8 06 23 30 10.54436/jns.2025.06.1157 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 2025 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1132 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng viên lâm sàng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 262 điều dưỡng viên tại 8 khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2025. Dữ liệu thu thập dưới hình thức phát vấn sử dụng bộ công cụ KASRP (Knowledge and Attitudes Survey Regarding Pain).</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ điều dưỡng đạt kiến thức và thái độ quản lý đau là 73,3%, 26,7% chưa đạt. Một số yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê, bao gồm trình độ chuyên môn (cao đẳng chưa đạt cao hơn so với nhóm đại học/sau đại học; p = 0,014), điều dưỡng có bậc năng lực dưới 3 có tỷ lệ đạt cao hơn; p = 0,031), tỷ lệ điều dưỡng khối Nội và Ngoại/Sản chưa đạt cao hơn so với điều dưỡng khối Ung bướu, Hồi sức cấp cứu, Nhi; p &lt; 0,01) và khối lượng công việc (nhóm chăm sóc ≤ 5 Người bệnh/ngày có tỷ lệ chưa đạt cao hơn, p = 0,014). Ngoài ra, thực hành và đào tạo cũng có ảnh hưởng rõ rệt: điều dưỡng không thường xuyên đánh giá đau có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,006), chưa tham gia tập huấn/hội thảo chuyên đề có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,004), và cảm thấy chưa được đào tạo đủ là có tỷ lệ chưa đạt cao hơn (p = 0,003). Các yếu tố tuổi, giới tính, thời gian công tác và đào tạo nội bộ không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p &gt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức thái độ quản lý đau của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City chịu ảnh hưởng bởi trình độ học vấn, bậc năng lực, đơn vị công tác, khối lượng công việc, thói quen đánh giá đau và sự tham gia tập huấn chuyên đề</p> Thị Thu Trần Văn Đông Phạm Thị Thiêm Cao Thị Liên Nguyễn Quang Huy Trần Thị Hòa Dương Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-29 2025-10-29 8 06 31 39 10.54436/jns.2025.06.1132 Thực trạng kiến thức tự tiêm insulin của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Thanh Nhàn https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1145 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức tự tiêm Insulin của người bệnh đái tháo đường type 2 tại khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ADA 2021 tại khoa Nội tiết và các bệnh chuyển hóa, bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 04 năm 2024 đến tháng 08 năm 2024 bằng bộ câu hỏi ITQ (Injection Technique Questionnaire) đã được thông qua tại hội thảo khuyến nghị chuyên gia (FITTER) và đã được chỉnh sửa cho phù hợp theo ý kiến của chuyên gia. Bộ công cụ được đánh giá độ tin cậy qua chỉ số Cronbach’s Alpha &gt; 0,7.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Người bệnh có kiến thức đúng về sử dụng Insulin: biết về làm ấm insulin bảo quản trong tủ lạnh trước khi tiêm (84%), biết bảo quản insulin mới chưa dùng (78%), biết thời gian hết hạn insulin sau khi mở (73,3%), biết cách lăn trộn insulin loại đục trước khi dùng (66,7%), bảo quản insulin đang tiêm (66%), tuân thủ sử dụng insulin (62,7%), biết tên insulin đang dùng (58,7%), biết thời gian ăn sau tiêm (56,7%). Người bệnh có kiến thức đúng về dụng cụ tiêm: biết sử dụng kim, bơm tiêm (58,7%), biết sử dụng kim bút tiêm (38,7%), biết chiều dài kim của dụng cụ tiêm (29,3%). Người bệnh có kiến thức đúng về vị trí tiêm: biết cách xác định vị trí tiêm (40%), biết cách xác định độ rộng vùng tiêm (33,3%), biết cách luân chuyển vị trí tiêm (18,7%). Tỷ lệ người bệnh có kiến thức tiêm insulin đạt chiếm 60%, chưa đạt chiếm 40%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức chung tự tiêm insulin của người bệnh đạt chiếm 60%. Kiến thức tự tiêm insulin đúng của người bệnh dao động từ 18,7% đến 84%. </p> Khánh Huyền Nguyễn Đình Tôn Đoàn Thị Bưởi Vũ Thu Hằng Đặng Thị Hương Giang Trần Nam Hồng Nguyễn Quý Phong Hoàng Kiều Anh Nguyễn Thị Như Mai Nguyễn Quang Tuyển Đỗ Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-29 2025-10-29 8 06 40 48 10.54436/jns.2025.06.1145 Động lực học tập nâng cao năng lực tiếng anh của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y lâm sàng https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1114 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu đánh giá động lực học tập cải thiện năng lực tiếng Anh và các yếu tố liên quan của khối điều dưỡng Việt Nam.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên các điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật y bằng lấy mẫu thuận tiện. Động lực học tập tiếng Anh được đo bằng Thang đo động lực làm việc đa chiều (MWMS).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình động lực của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y là 86,20 ± 17,51 điểm, với 64,7% có động lực ở mức trung bình. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đặc điểm cá nhân, nghề nghiệp và động lực học tiếng Anh của họ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Đa số điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật y lâm sàng tại Việt Nam có động lực học tiếng Anh ở mức trung bình, phản ánh nhu cầu cần được hỗ trợ và khuyến khích nhiều hơn để thúc đẩy động lực của họ trong quá trình nâng cao năng lực ngoại ngữ.</p> Thị Hồng Nhẩn Võ Thị Hồng Minh Nguyễn Thị Thu Hảo Nguyễn Hoàng Phúc Lê Thị Bích Ngọc Nguyễn Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-29 2025-10-29 8 06 49 60 10.54436/jns.2025.06.1114 Mô hình bệnh tật hệ nội tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023-2024 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1139 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mô hình bệnh tật người bệnh điều trị nội trú hệ nội và phân tích xu hướng bệnh tật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2023 - 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả hồi cứu dữ liệu thứ cấp được thực hiện trên 12.951 bệnh án người bệnh đến khám, nhập viện điều trị, chẩn đoán bệnh theo ICD tại các khoa hệ nội Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2023–2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Cho thấy bệnh phổ biến nhất là: Nhóm bệnh lý tiêu hóa (chương XI) chiếm tỷ lệ lớn nhất 15,9%, tiếp theo là bệnh lý Tuần hoàn (chương IX) 15,6% và Hô hấp (chương X) 12,3%. Nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 45,9%, nam giới chiếm 53,6%. Xu hướng bệnh nội trú tăng ở các nhóm nội tiết, hô hấp, và tuần hoàn từ 2023 đến 2024. Phân bố bệnh có liên quan đáng kể đến giới tính và nhóm tuổi (χ² = 349,91; p &lt; 0,001).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phòng ngừa, điều trị, giáo dục sức khỏe và cải thiện quản lý bệnh viện, đặc biệt đối với bệnh mạn tính, cung cấp bằng chứng quan trọng cho quản lý bệnh viện và kiểm soát bệnh mạn tính.</p> Thị Thảo Nguyễn Tiến Lộc Đỗ Thanh Bình Nguyễn Thị Phương Thảo Vũ Đức Thuấn Bùi Thị Nguyệt Trần Quang Trung Trương Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-10-30 2025-10-30 8 06 61 71 10.54436/jns.2025.06.1139 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Sơn La năm 2024 - 2025 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1077 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Sơn La năm 2024 - 2025. </p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 895 Sinh viên đang theo học tại Trường cao đẳng Y tế Sơn La từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025, sử dụng thang đo Depression - Anxiety - Stress Scales 21 (DASS 21) để đánh giá về stress của sinh viên.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên bị stress là 32%. Một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tình trạng stress của sinh viên là từng bị bạo lực mạng có nguy cơ Stress cao nhất với (p &lt; 0,05; OR = 6,9); có mâu thuẫn với bạn bè với (p &lt; 0,01; OR = 3,74); có xung đột với thành viên trong gia đình (p &lt; 0,01; OR = 3,07); Nữ giới (p &lt; 0,01; OR = 1,85) và có áp lực học tập (p &lt; 0,01; OR = 1,57).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên là: Sinh viên là nữ; Cảm thấy áp lực với học tập; Bất hoà, mâu thuẫn với bạn bè; Từng bị bạo lực mạng xã hội; Xung đột với thành viên trong gia đình.</p> Thị Thu Trang Hà Trung Hiếu Kiều Thị Hảo Bùi Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-07 2025-11-07 8 06 72 80 10.54436/jns.2025.06.1077 Thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1048 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 130 người bệnh đang điều trị tại Khoa Phẫu thuật ống tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 07 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024. Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa trên tài liệu “Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng” và “Dinh dưỡng lâm sàng” được thẩm định bởi 03 chuyên gia với CVI là 0,96 và độ tin cậy là 0,89.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Có 34,62% người bệnh có kiến thức đạt về chế độ ăn và 65,38% chưa đạt. Tuổi, nơi ở, trình độ học vấn, mức sống và đã nhận thông tin dinh dưỡng được ghi nhận có liên quan đến kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện Quân y 103 còn hạn chế. Cần tăng cường giáo dục dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật nhằm cải thiện kết quả điều trị và phục hồi.</p> Văn Tiến Vũ Anh Tuấn Lê Xuân Hùng Đặng Trung Hiếu Ngô Hữu Đức Nguyễn Minh Quang Ngô Nhật Anh Lê Thị Thùy Dung Nguyễn Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-10 2025-11-10 8 06 81 90 10.54436/jns.2025.06.1048 Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Vinmec Times City năm 2025 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1134 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Mô tả cắt ngang trên 272 người bệnh Đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Thu thập số liệu từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 4 năm 2025 sử dụng bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống Asian DQOL.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm chất lượng cuộc sống của người bệnh trung bình là 77,38 (± 4,66)/100 điểm. Điểm sức khoẻ tinh thần và tài chính ở mức cao (&gt;95/100 điểm); Lĩnh vực sức khỏe thể chất và chế độ ăn ở mức trung bình (khoảng 70/100 điểm), lĩnh vực mối quan hệ cá nhân ở mức thấp 41,81/100 điểm. Phân loại chất lượng cuộc sống theo mức độ 73,5% người bệnh đạt mức “khá, tốt”; còn lại 26,5% ở mức “trung bình khá”.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu cho thấy điểm chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh đái tháo đường típ 2 trong nghiên cứu này ở mức khá (77,38/100 điểm), tỷ lệ mức độ chất lượng cuộc sống tổng thể mức khá, tốt cao (73,5%)</p> Văn Chuyên Mai Thị Thu Hương Nguyễn Thị Thu Nguyễn Phúc Phóng Nguyễn Văn Thảo Vũ Viết Long Đỗ Thị Ngọc Hà Lưu Anh Sơn Đặng Thanh Nam Nguyễn Thị Nguyệt Nguyễn Hồng Thu Bế Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-11 2025-11-11 8 06 91 99 10.54436/jns.2025.06.1134 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường có biến chứng bàn chân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1074 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh Đái tháo đường có biến chứng bàn chân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 75 Người bệnh đái tháo đường có biến chứng bàn chân đang nằm điều trị tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 12/2024 đến 8/2025. Bộ công cụ đánh giá kiến thức của người bệnh đái tháo đường tham khảo nghiên cứu của Hồ Phương Thúy với độ tin cậy Crobach’s alpha là 0,8267, bao gồm các nội dung: Kiến thức về các nguy cơ của bàn chân đái tháo đường; Kiến thức về chăm sóc bàn chân hàng ngày; Kiến thức về bảo vệ bàn chân tránh tổn thương; Kiến thức về tăng cường tuần hoàn cho chân; Kiến thức về kiểm tra và xử lý các bất thường ở chân.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 17,3% người bệnh đái tháo đường có kiến thức tự chăm sóc bàn chân ở mức tốt, 77,4% ở mức kém và 5,3% ở mức trung bình.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức tự chăm sóc bàn chân của người bệnh còn hạn chế, cần bổ sung kiến thức cho người bệnh về các nguy cơ của biến chứng bàn chân, cách kiểm tra, bảo vệ hay chăm sóc bàn chân đúng cách hàng ngày</p> Thị Nga Đặng Thị Minh Chính Nguyễn Thị Hoa Huyền Nguyễn Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-12 2025-11-12 8 06 100 108 10.54436/jns.2025.06.1074 Diễn biến thay đổi tình trạng lo âu ở sản phụ trước và sau mổ lấy thai tại Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1161 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả diễn biến thay đổi tình trạng lo âu của sản phụ trước và sau mổ lấy thai thông qua các hoạt động tư vấn, giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên tại Trung tâm Sản phụ khoa Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times City năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Thiết kế mô tả cắt ngang có so sánh trên 248 sản phụ, thu thập thông tin khi sản phụ làm thủ tục mổ lấy thai và khi có chỉ định ra viện. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ STAI-T (State-Trait Anxiety Inventory) gồm 20 câu hỏi để đánh giá tình trạng lo âu, trong đó điểm tối đa là 80 điểm, sản phụ được đánh giá là có lo âu nếu số điểm ≥ 45. Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0 với thống kê mô tả xác định tần số và tỷ lệ %, kiểm định T-test ghép cặp và Mc-Nemar để so sánh sự khác biệt giữa hai thời điểm với mức ý nghĩa 5%.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ lo âu của sản phụ giảm từ 10,1% trước mổ lấy thai xuống còn 2,0% sau khi mổ lấy thai. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ lo âu ở thời điểm trước và sau khi thực hiện tư vấn – giáo dục sức khỏe của điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng viên giúp cải thiện tình trạng lo âu của sản phụ.</p> Thị Sinh Hoàng Thị Duyên Lê Thị Lan An Thị Thu Hương Hoàng Thị Hoa Bùi Thị Minh Hương Nguyễn Thị Nhung Nguyễn Phúc Phóng Nguyễn Văn Linh Nguyễn Bá Nha Phạm Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-13 2025-11-13 8 06 109 116 10.54436/jns.2025.06.1161 Một số yếu tố liên quan kết quả chăm sóc bệnh nhi dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai, Hà Nội năm 2025 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1162 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Phân tích một số yếu tố liên quan tới kết quả chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 129 bà mẹ và 129 trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai, Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ gồm 2 phần: phần 1: đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi bị tiêu chảy cấp được thu thập từ hồ sơ bệnh án, và phần 2: bộ câu hỏi phát vấn các bà mẹ để đánh giá về hoạt động chăm sóc trẻ của điều dưỡng viên. Phân tích số liệu trên SPSS 25.0 với bảng biểu mô tả tần số và test Chi-square để tìm hiểu mối liên quan đến kết quả chăm sóc của điều dưỡng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chăm sóc đạt kỳ vọng là 69,8% và chưa đạt kỳ vọng là 30,2%. Có mối liên quan giữa kết quả chăm sóc bệnh nhi tiêu chảy cấp với một số yếu tố: tính chất phân, biểu hiện mất nước, tình trạng dinh dưỡng, bệnh kèm theo và rối loạn điện giải đồ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh viện, phòng điều dưỡng cần tăng cường đào tạo tập huấn để nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc bệnh nhi cho đối tượng điều dưỡng viên. Trong quá trình chăm sóc cho bệnh nhi tiêu chảy cấp cần lưu ý các trẻ có tình trạng có tình trạng mất nước nặng, kích thích/ li bì, trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ có bệnh kèm theo và trẻ đã có biểu hiện rối loạn điện giải.</p> Văn Toàn Phùng Thị Lệ Quyên Nguyễn Thu Hằng Đặng Thị Tươi Vũ Thị Huyền Hoàng Thị Thanh Bình Phan Thị Xuân Mỹ Mai Thị Phương Hoàng Minh Đạt Ngô Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-14 2025-11-14 8 06 117 126 10.54436/jns.2025.06.1162 Yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng viên Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1133 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City và một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 205 điều dưỡng viên, tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2025. Bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ thực hành về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng được xác định giá trị kiểm định là I-CVI của tất cả tiểu mục là 0,99 và S-CVI/UA = 0,97, hệ số Kappa là 0,731.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt về dự phòng phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng lần lượt là 82,4%, 91,7%, 86,3%. Điều dưỡng viên có tuổi nghề cao, trình độ học vấn từ đại học trở lên, có kiến thức và thái độ tích cực sẽ có thực hành tốt hơn trong dự phòng phơi nhiễm.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng về dự phòng phơi nhiễm chịu ảnh hưởng bởi tuổi, thâm niên, trình độ chuyên môn. Các nhà quản lý và giáo dục điều dưỡng cần quan tâm đến thực trạng này từ đó có các chiến lược can thiệp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể của điều dưỡng.</p> Văn Đông Phạm Thị Hằng Nguyễn Xuân An Tăng Văn Chuyên Mai Phúc Phóng Nguyễn Văn Thảo Vũ Thị Thu Trần Quốc Kham Trần Thị Hòa Dương Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-14 2025-11-14 8 06 127 134 10.54436/jns.2025.06.1133 Nhận thức, sự hài lòng của sinh viên điều dưỡng về phương pháp đóng vai và một số yếu tố liên quan tại Trường Đại học Đại Nam năm 2024 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1174 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả nhận thức, sự hài lòng của sinh viên điều dưỡng về phương pháp đóng vai và một số yếu tố liên quan tại Trường Đại học Đại Nam năm 2024.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 283 sinh viên Điều dưỡng năm thứ 1 đến năm thứ 4 trường Đại học Đại Nam từ tháng 01/11/2024- 30/03/2025, sử dụng thang đo về nhận thức do Dawood, E. và thang đo đánh giá sự hài lòng trong học tập của Cho, Y. H., &amp; Kweon, Y. R.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình nhận thức của sinh viên về phương pháp đóng vai là (3,99 ± 0,55), điểm trung bình các thành tố của thang đo từ 3,89 – 4,01, điểm trung bình hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai khá cao (4,06 ± 0,51). Một số yếu tố liên quan đến nhận thức và sự hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai là: Năm học, thời lượng của một buổi học đóng vai.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Mức độ nhận thức và sự hài lòng của sinh viên về phương pháp đóng vai trong quá trình đào tạo có điểm trung bình khá cao. Cần tiếp tục duy trì các môn học đang áp dụng phương pháp học đóng vai và mở rộng ra các môn học khác có thể áp dụng phương pháp này. Nên tập trung vào việc tối ưu hóa thời lượng và nội dung của phương pháp đóng vai để phù hợp với từng năm học, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và sự hài lòng của sinh viên.</p> Thị Vân Hoàng Quang Huy Trần Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-11-17 2025-11-17 8 06 135 145 10.54436/jns.2025.06.1174 Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên đối tượng khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart city https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1059 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng lo âu của khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City” và “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của nhóm đối tượng trên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên khách hàng có chỉ định nội soi đường tiêu hóa gây mê từ tháng 4/2025 đến tháng 7/2025 tại Khoa Khám bệnh &amp; Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City. Mức độ lo âu được đánh giá bằng thang điểm STAI. Kết quả nghiên cứu sử dụng các phân tích mô tả, so sánh tỷ lệ (Chi bình phương và Fisher’s Exact test), các so sánh giá trị trung bình (tương quan Spearman’s rho).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên 76 khách hàng, chủ yếu ở độ tuổi dưới 60 (77,6%), trong đó giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn (57,9%). 51,3% khách hàng đã từng nội soi tiêu hóa. Nguyên nhân phổ biến nhất khiến khách hàng lo âu khi nội soi là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi với tỷ lệ lần lượt là 78,9%, 73,7% và 68,4%. Nguyên nhân giúp khách hàng cảm thấy bớt lo âu khi nội soi phổ biến nhất là đã quen với các thăm dò y khoa và đã tiến hành nội soi trước đó với tỷ lệ lần lượt là 60,5% và 57,9%. Điểm STAI-S và STAI-T trung bình lần lượt là 39,4 ± 8,2 và 35,1 ± 5,1. Mức độ lo âu ở mức trung bình trở lên (STAI-S) chiếm đa số với tỷ lệ 52,6%. Ở thang STAI-T, lo âu ở mức độ cao chiếm tỷ lệ chỉ 3,9%, không lo âu hoặc lo âu mức độ ít chiếm đa số với 72,4%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Có tình trạng lo âu trước khi tiến hành thủ thuật nội soi tiêu hóa có gây mê. Các vấn đề lo lắng chủ yếu là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa. </p> Thị Khuyến Nguyễn Thị Liên Nguyễn Thị Hạnh Đỗ Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2025-12-02 2025-12-02 8 06 146 154 10.54436/jns.2025.06.1059