Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://jns.vn/index.php/journal
<p><strong> Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021</strong><strong><br /> DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632</strong></p> <p><strong><br /></strong>Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học & công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng.</p>Trường Đại học Điều dưỡng Nam Địnhvi-VNTạp chí Khoa học Điều dưỡng2615-9589Thực trạng kiến thức và một số yếu tố liên quan về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ tại Thành phố Nam Định
https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1138
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức về sử dụng kháng sinh của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thành phố Nam Định năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ 12/2024 đến 6/2025 trên 400 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 4 trường mầm non công lập ở thành phố Nam Định. Công cụ là bộ câu hỏi tự điền gồm 15 câu đánh giá kiến thức về sử dụng kháng sinh, xây dựng dựa trên bộ công cụ của M. Yu và cộng sự, có tham khảo Quyết định số 708/QĐ-BYT năm 2015 và được thẩm định nội dung bởi chuyên gia. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 20.0, sử dụng thống kê mô tả và hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình là 7,43 ± 1,92/10. Có 66,8% bà mẹ có kiến thức đạt. Tỷ lệ trả lời đúng cao ở câu hỏi về liều dùng cho trẻ (92,5%) và tác hại khi dùng sai (87,5%). Tuy nhiên, 48,2% nhầm lẫn kháng sinh điều trị virus và 55,8% cho rằng kháng sinh không gây tác dụng phụ. Kiến thức đạt của bà mẹ có mối liên quan với trình độ học vấn trên trung học phổ thông, tiền sử không sử dụng kháng sinh cho con trong 6 tháng qua, và việc tiếp cận thông tin từ cán bộ y tế (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phần lớn bà mẹ có kiến thức đúng về sử dụng kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi, song vẫn tồn tại nhiều hiểu lầm như kháng sinh điều trị được bệnh do virus và không gây tác dụng phụ. Cần tăng cường truyền thông – giáo dục sức khỏe, ưu tiên nhóm bà mẹ có học vấn thấp và có thói quen tự ý dùng kháng sinh.</p>Thị Dung Nguyễn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-06-262026-06-2690461310.54436/jns.2026.04.1138Đánh giá sự tuân thủ điều trị thuốc arv và một số yếu tố liên quan ở người bệnh nhiễm hiv/aids tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2025
https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1190
<p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và xác định một số yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị ARV ở người bệnh nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 210 người bệnh nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú B20 – Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 4 - 8/2025. Người bệnh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi gồm 6 phần tại phòng khám về các nội dung thực hành tuân thủ điều trị ARV.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV chung đạt 86,2%. Hai yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV bao gồm: sử dụng ma túy (OR = 6,23; 95% CI: 2,19 – 17,74; p = 0,001) và sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội (OR = 3,78; 95% CI: 1,08 – 13,22; p = 0,037).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Cần tập trung nghiên cứu, tư vấn – giáo dục sức khỏe cho nhóm nguy cơ cao và hoàn thiện chính sách hỗ trợ để nâng cao hiệu quả tuân thủ điều trị. </p>Thị Hồng Tiên MaThị Liên Hà
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-06-262026-06-26904142110.54436/jns.2026.04.1190Thực trạng sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng năm 2025
https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1095
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng năm 2025.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 đến tháng5 năm 2025 trên 385 người bệnh điều trị nội trú, sử dụng bộ câu hỏi khảo sát hài lòng do Bộ Y tế ban hành năm 2024.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Trong 385 người bệnh có 57,1% là nữ. Độ tuổi 30-59 chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 51,9% và có trình độ từ trung học phổ thông trở xuống chiếm 53%. Tỷ lệ người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện hài lòng đạt 96,4% với điểm hài lòng trung bình chung là 4,52/5. Trong đó, người bệnh hài lòng cao nhất với thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế (97,7%), trong khi khả năng tiếp cận được đánh giá thấp nhất (89,9%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Sự hài lòng của người bệnh tại bệnh viện nhìn chung ở mức khá cao, song khả năng tiếp cận cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ toàn diện.</p>Thị Hương PhanMinh Sinh Đỗ
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-06-292026-06-29904223110.54436/jns.2026.04.1095Nhận thức của nhân viên y tế về các rào cản đối với vận động sớm cho người bệnh tại các khoa chăm sóc đặc biệt: Nghiên cứu đa trung tâm trong Hệ thống Y tế Vinmec
https://jns.vn/index.php/journal/article/view/1319
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả nhận thức về các rào cản đối với vận động sớm cho người bệnh của nhân viên y tế tại một số bệnh viện thuộc hệ thống y tế Vinmec năm 2026.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 12/2025 đến tháng 05/2026 trên 192 nhân viên y tế (bác sĩ hồi sức cấp cứu, điều dưỡng hồi sức cấp cứu, bác sĩ phục hồi chức năng và kỹ thuật viên phục hồi chức năng) tại 8 bệnh viện thuộc hệ thống y tế Vinmec. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi PMABS-ICU đã được hiệu chỉnh và kiểm định độ tin cậy. Các rào cản được đánh giá theo ba lĩnh vực: kiến thức, thái độ và hành vi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nhân viên y tế đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng họ có thể xác định người bệnh cần can thiệp vận động trị liệu và hoạt động trị liệu lần lượt là 61,5% và 64,6%; 74,0% cho biết sẽ hướng dẫn người bệnh tập luyện khi không có chống chỉ định. Có 77,1% nhân viên y tế tin rằng vận động sớm ít nhất một lần mỗi ngày giúp cải thiện kết quả điều trị và 76,0% không cho rằng vận động sớm gây hại cho người bệnh. Đa số đối tượng nhận được sự hỗ trợ từ lãnh đạo (72,9%), thường xuyên thảo luận khả năng vận động của người bệnh trong nhóm chăm sóc (71,3%) và không xem thiếu trang thiết bị (63,6%) hoặc thiếu thời gian (57,8%) là rào cản chính. Điểm trung vị rào cản tổng thể là 26,9 (IQR: 21,5–36,9), trong đó rào cản thái độ có điểm cao nhất (27,8; IQR: 20,0–39,4).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc hệ thống Vinmec có nhận thức tương đối tốt về vận động sớm cho người bệnh. Rào cản được ghi nhận chủ yếu liên quan đến thái độ và hành vi hơn là kiến thức, đặc biệt là cảm nhận về khối lượng công việc và sự khác biệt trong nhận thức giữa các cá nhân.</p>Mạnh Luân NguyễnThị Hoa Huyền NguyễnHồng Thu BếThanh Trà NguyễnThị Vân Anh ĐặngThị Thùy Dung TrầnVăn Bảy NguyễnĐức Tiến PhạmTiến Hà Nguyễn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0
2026-07-102026-07-10904324310.54436/jns.2026.04.1319