Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://jns.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021<br /></strong><strong>DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632<br /></strong><br />Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học &amp; công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng</p> Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định vi-VN Tạp chí Khoa học Điều dưỡng 2615-9589 Khảo sát sự hài lòng của người bệnh nội trú đối với công tác chăm sóc của điều dưỡng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/426 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả mức độ hài lòng của người bệnh nội trú đối với công tác chăm sóc của điều dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 358 người bệnh nội trú tại các khoa lâm sàng Nội và Ngoại khoa của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ tháng 3/2021 đến 10/2021.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình về sự hài lòng của người bệnh đối với công tác chăm sóc của điều dưỡng là 79,56±10,54. Phần lớn người bệnh đánh giá sự hài lòng đối với công tác chăm sóc của điều dưỡng ở mức tốt và rất tốt chiếm 71,51%, mức khá chiếm 26,54%, chỉ có 1,96% đánh giá ở mức trung bình. Người bệnh đánh giá sự hài lòng cao nhất đối với câu hỏi liên quan đến “Điều dưỡng viên có kỹ năng tay nghề thành thạo khi thực hiện chăm sóc ông/bà ví dụ như thực hiện thuốc cho ông/bà”, tuy nhiên người bệnh đánh giá sự hài lòng thấp nhất với câu hỏi về “Điều dưỡng viên tạo môi trường yên tĩnh cho ông/bà” và “Điều dưỡng viên tạo môi trường riêng tư cho ông/bà”. Người bệnh không có bệnh mãn tính kèm theo có mức độ hài lòng thấp hơn so với nhóm có 1 bệnh mãn tính với OR = 0,34 (95%CI: 0,19 - 0,62) và mức độ hài lòng thấp hơn so với nhóm có từ 3 bệnh mãn tính trở lên với OR = 0,29 (95% CI: 0,11 – 0,77). <strong>Kết luận:</strong> Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu cho thấy điều dưỡng đã thực hiện việc cung cấp thông tin và đưa ra các giải thích rõ ràng và cần thiết tới người bệnh, cung cấp dịch vụ chăm sóc điều dưỡng chất lượng cao để đảm bảo sự hài lòng của người bệnh trong thời gian nằm viện điều trị. Đào tạo liên tục cho điều dưỡng về giao tiếp ứng xử để người điều dưỡng thực hiện tốt chức trách và nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc người bệnh. </p> Thị Nguyệt Nguyễn Thanh Hằng Đặng Thị Việt Nga Nguyễn Thị Quỳnh Nga Đinh Thanh Long Trần Thị An Nguyễn Thị Anh Đào Hoàng Thị Thuý Hằng Nguyễn Ngọc Toàn Phạm Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-12 2022-05-12 5 02 6 18 10.54436/jns.2022.02.426 Hậu quả thương tích té ngã và yếu tố liên quan với người cao tuổi tại Thành phố Nam Định năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/408 <h3>Mục tiêu: Tìm hiểu hậu quả thương tích do té ngã và yếu tố liên quan với người cao tuổi và gia đình tại địa bàn Thành phố Nam Định năm 2021.</h3> <h3>Đối tượng và phương phá<strong>p nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang để khảo sát về hậu quả thương tích do té ngã ở người cao tuổi, thời gian từ tháng 1/2021 - 12/2021, trên địa bàn 4 phường, xã: Nam Vân, Nam Phong, Mỹ Xá, Lộc Hòa - Thành phố Nam Định.</h3> <h3>Kết quả: Thương tích do té ngã chiếm 32,5% ở người cao tuổi tại Thành phố Nam Định, tuổi bị thương tích nhiều nhất 66, tuổi thấp nhất 60, cao nhất 99, tuổi trung bình 76,48, <strong>nhóm tuổi ≥80 chiếm 62,3%, </strong>nữ <strong>66,2</strong>%. <strong>Hậu quả thương tích do té ngã với </strong>người cao tuổi, khi<strong> lên xuống cầu thang cần trợ giúp 73,8%, tắm rửa cần trợ giúp 73,1% và hỗ trợ hoàn toàn 25,4%, đi lại cần trợ giúp 55,4%. T</strong>hu nhập hộ gia đình giảm 29,2% và giảm tạm thời 63,1%. Cung cấp lương thực thực phẩm với hộ gia đình giảm 5,4% và giảm tạm thời 86,9%. <strong>Người thân phải nghỉ học, nghỉ làm để chăm sóc 64,7%, thuê người chăm sóc 8,8%. L</strong>iên quan giữa người cao tuổi <strong>tham gia hoạt động xã hội và lao động tự do bị thương tích nặng và rất nặng cao hơn và gấp 9 lần so với người nghỉ hưu và nội trợ</strong> (OR = 9,0; p &lt;0,000). Gia đình phải vay mượn chi trả cho điều trị tại bệnh viện <strong>cao hơn và gấp 30,96 lần so với</strong> chăm sóc điều trị tại y tế cơ sở (OR = 30,96; p &lt;0,000).</h3> <h3>Kết luận: Thương tích do té ngã ảnh hưởng đáng kể đến người cao tuổi và gia đình. Yếu tố liên quan thương tích do té ngã với người cao tuổi khi tham gia <strong>hoạt động xã hội, lao động tự do và</strong> gia đình phải vay mượn chi trả điều trị thương tích tại bệnh viện.</h3> Mạnh Độ Vũ Văn Long Trần Thị Thúy Mai Vũ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-12 2022-05-12 5 02 19 30 10.54436/jns.2022.02.408 Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại trung tâm ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan https://jns.vn/index.php/journal/article/view/423 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnhung thư tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 190 người bệnh ung thư từ 18 tuổi trở lên và điều trị nội trú từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2021.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ chiếm 66,3%. Trong đó, 3 nhóm nhu cầu có tỷ lệ cần hỗ trợ cao nhất là: nhu cầu hỗ trợ thông tin y tế, nhu cầu hỗ trợ tài chính và phúc lợi xã hội và nhu cầu hỗ trợ thể chất. Có mối liên quan giữanhu cầu chăm sóc giảm nhẹ với giai đoạn bệnh và nghề nghiệp của người bệnh ung thư. Nhóm người bệnh ở giai đoạn III và IV có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cao hơn gấp 1,63 lần) so với nhóm người bệnh ở giai đoạn I, II (p &lt; 0,05; 95%CI: 1,15 – 2,32). Người bệnh làm nghề nông có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cao hơn gấp 3,17 lần so với người bệnh đã nghỉ hưu (p&lt;0,05; 95%CI: 1,43 – 7,07).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Đa số người bệnh ung thư có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ. Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư có mối liên quan đến giai đoạn bệnh và nghề nghiệp của người bệnh.</p> Đình Sơn Vũ Ngọc Ánh Phạm Thị Vân Anh Đặng Thúy Phượng Lê Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-12 2022-05-12 5 02 31 40 10.54436/jns.2022.02.423 Thay đổi kiến thức dự phòng sỏi thận tái phát ở người bệnh phẫu thuật sỏi thận sau giáo dục sức khoẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định https://jns.vn/index.php/journal/article/view/418 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Thay đổi kiến thức dự phòng sỏi tái phát ở người bệnh sau phẫu thuật sỏi thận tại khoa Ngoại thận –Tiết niệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định<strong>. </strong></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp trên 102 người bệnh phẫu thuật sỏi thận tại khoa Ngoại thận –Tiết niệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Điểm trung bình kiến thức về chế độ ăn, uống phòng sỏi thận tái phát trước can thiệp là 2,47 ± 1,38, sau can thiệp là 5,74 ± 1,58. Điểm trung bình kiến thức về chế độ vệ sinh và tập luyện thể dục, về thuốc phòng, lao động và tái khám trước can thiệp là 3,09 ± 1,15, sau can thiệp là 5,44 ± 0,83. Điểm trung bình kiến thức về phòng sỏi tái phát ở người bệnh trước can thiệp là 8,54 ± 3,15 (trên tổng số 20 điểm), sau can thiệp là 16,85 ± 3,32.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức phòng bệnh của người bệnh trước can thiệp còn nhiều hạn chế, Sau giáo dục sức khỏe kiến thức về phòng bệnh tái phát của người bệnh có sự thay đổi rõ rệt.</p> Thị Lệ Thủy Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-12 2022-05-12 5 02 41 48 10.54436/jns.2022.02.418 Ý định và thái độ đối với việc tiêm phòng vaccine covid-19 của Học sinh Trường trung học phổ thông Nguyễn Hiền quận Hải Châu- Đà Nẵng và học sinh Trường trung học phổ thông Yaly huyện Chư Păh-Gia Lai https://jns.vn/index.php/journal/article/view/414 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả ý định và thái độ đối với việc tiêm phòng vaccine COVID-19 của học sinh trung học phổ thông. Xác định một số yếu tố liên quan đến ý định và thái độ đối với việc tiêm phòng vaccine COVID-19 của học sinh trung học phổ thông.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đã được thực hiện với cở mẫu 291 học sinh tại 2 trường Trung học phổ thông Nguyễn Hiền quận Hải Châu-Đà Nẵng và học sinh trường Trung học phổ thông Yaly huyện Chư Păh-Gia Lai.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ học sinh sẵn sàng với việc tiêm phòng vaccine COVID-19 là 83,2%. Học sinh có thái độ tích cực ở mức cao đối với việc tiêm phòng vaccine COVID-19: M =7,59 ± 2,08.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ học sinh sẵn sàng và thái độ với việc tiêm phòng vaccine COVID-19 khá cao và tích cực. Để tăng tỉ lệ sẵn sàng với việc tiêm phòng vaccine COVID-19 cao hơn nữa cần cung cấp kiến thức cho học sinh về vai trò và lợi ích của việc tiêm vaccine COVID-19</p> Thị Lan Vi Hồ Thị Hàn Châu Võ Thị Kim Ngọc Nguyễn Thị Lâm Anh Hoàng Thị Hiền Trần Thị Kim Thoa Trần Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 49 60 10.54436/jns.2022.02.414 Một số yếu tố liên quan đến vận động của người bệnh sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/434 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định một số yếu tố liên quan đến vận động của người bệnh sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại khoa Chấn thương chỉnh hình – Bỏng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020.</p> <p><strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Đối tượng nghiên cứu gồm 149 người bệnh trên 18 tuổi sau phẫu thuật kết hợp xương chi dưới tại khoa Chấn thương chỉnh hình-Bỏng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định. Nghiên cứu mô tả trên 149 người bệnh sau phẫu thuật.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Phương pháp phẫu thuật, vị trí phẫu thuật, tuổi (p&lt;0,05) có mối tương quan đến vận động sau phẫu thuật. Đau sau phẫu thuật, hỗ trợ xã hội có mối tương quan chặt chẽ với vận động sau phẫu thuật tương ứng (r = -0,934;-0,659; 0,304; 0,542; p&lt;0,05). Người bệnh tuổi càng cao thì vận động kém hơn so với những người trẻ tuổi (r = - 0,292; - 0,285,p&lt;0,05 ). Những người bệnh bị gãy xương ở vị trí xương cẳng chân vận động tốt hơn những người bệnh gãy xương đùi và cổ xương đùi (SD = 2,99; 2,83; 2,84; p&lt;0,05); người bệnh kết hợp xương bằng đinh nội tủy vận động tốt hơn những phương pháp kết hợp xương khác (SD = 2,61; 3,82; 3,04; p&lt;0,05).</p> <p><strong>Kết luận</strong>: 92,6% người bệnh tập vận động đạt yêu cầu ở thời điểm ra viện. Tuổi, vị trí phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật, mức độ đau và hỗ trợ xã hội có tương quan với vận động của người bệnh sau phẫu thuật. Trong chăm sóc, người điều dưỡng dựa vào mối tương quan này để đưa ra được những tác động tích cực nhằm nâng cao chất lượng và khả năng phục hồi vận động sau phẫu thuật gãy xương chi dưới.</p> Thị Thùy Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 61 71 10.54436/jns.2022.02.434 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết quả học tập của sinh viên đại học điều dưỡng chính quy khóa 14, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm học 2018 – 2019 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/413 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết quả học tập của sinh viên Đại học điều dưỡng chính quy khóa 14, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định năm học 2018 – 2019.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứ</strong>u: Mô tả cắt ngang được tiến hành trên 247 sinh viên Đại học Điều dưỡng chính quy khóa 14, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020 sử dụng phiếu điều tra tự điền đã được thiết kế sẵn. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đo lường Ấn Tượng Trường Học, Động Cơ Học Tập, Phương Pháp Học Tập của sinh viên, Vai Trò Cố Vấn Học Tập.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kết quả học tập dựa trên điểm tích lũy cả năm học 2018-2019 của sinh viên chủ yếu là ở mức trung bình (52,2%), mức yếu kém (27,9%) và không có sinh viên đạt mức giỏi - xuất sắc (0%). Các yếu tố: Giới tính, Ban cán sự lớp, Làm thêm không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05) với điểm tích luỹ cả năm của sinh viên. Ấn tượng học tập không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05) với điểm tích luỹ cả năm của sinh viên. Động cơ học tập, phương pháp học tập, vai trò cố vấn học tập có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p&lt;0,05) với điểm tích luỹ cả năm của sinh viên.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kết quả học tập của sinh viên Đại học Điều dưỡng còn khá thấp và phụ thuộc vào động cơ học tập, phương pháp học tập và vai trò cố vấn học tập. Vì vậy, sinh viên cần xác định rõ mục tiêu học tập, động cơ và phương pháp học tập, nhà trường cần xây dựng mô hình cố vấn học tập để định hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch cụ thể cho từng sinh viên.</p> Thị Thu Huyền Đinh Thị Là Vũ Hồng Nhung Vũ Thị Lý Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 72 83 10.54436/jns.2022.02.413 Mức độ tham gia và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định https://jns.vn/index.php/journal/article/view/422 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả mức độ tham gia và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên điều dưỡng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2020 đến tháng 6/2021 với phương pháp nghiên cứu định lượng bằng số liệu thứ cấp do Phòng Quản lý và nghiên cứu khoa học cung cấp, và phương pháp nghiên cứu định tính tiến hành trên 40 sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy trong những năm gần đây có sự thay đổi đáng kể về số lượng và chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Từ năm 2016 không có sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học đến năm 2020 đã có 13 đề tài được xét duyệt thông qua, 10 đề tài được nghiệm thu, 33 ý tưởng sáng tạo và khởi nghiệp, 30 sinh viên tham gia làm khóa luận tốt nghiệp.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Những con số này chưa phải là lớn nhưng cũng cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có những bước tiến bộ. Nhà trường cần rèn luyện cho sinh viên một số năng lực cá nhân, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để các em có thể thực hiện được các hoạt động nghiên cứu khoa học như các năng lực về giao tiếp, năng lực thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lập kế hoạch làm việc để sinh viên sẽ tự tin, chủ động hơn khi tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học.</p> Thị Thơm Chu Thị Thu Hằng Mai Ngọc Thành Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 84 95 10.54436/jns.2022.02.422 Tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm đánh giá chủ quan tổng thể SGA ở người bệnh điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch – Lão học, Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh https://jns.vn/index.php/journal/article/view/466 <p><strong>Mục tiêu :</strong> Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo thang điểm đánh giá chủ quan tổng thể SGA (Subjective Global Assessment) và một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị nội trú.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2021, áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả. Tổng cộng có 400 người bệnh nhập viện điều trị nội trú tại Khoa Nội Tim Mạch – Lão Học Bệnh viện Đa khoa khu vực Cam Ranh tham gia vào nghiên cứu.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng lúc nhập viện theo thang điểm SGA là 56.7%. Người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng phân bố nhiều ở nhóm tuổi ≥ 60, chiếm 46%. Người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng thuộc nhóm có trình độ học vấn ở cấp 2 chiếm tỷ lệ 22.2%. Người bệnh có thu nhập thấp có tỷ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng 30.5%. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng phải kể đến hàng đầu là tuổi, trình độ học vấn và mức thu nhập (p&lt; 0.05). Tuổi càng cao có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn (p &lt; 0.05; r = 0.349).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy người bệnh nhập viện tại Khoa Nội Tim Mạch – Lão Học có nguy cơ suy dinh dưỡng thấp/ vừa, các yếu tố liên quan gồm tuổi, trình độ học vấn và mức thu nhập bình quân.</p> Thị Hoàng Oanh Trần Thị Bích Trâm Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 96 103 10.54436/jns.2022.02.466 Kiến thức, nhu cầu đào tạo về sơ cấp cứu ban đầu của giáo viên một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Nam Định năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/442 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả kiến thức, các yếu tố liên quan đến kiến thức, xác định nhu cầu đào tạo về sơ cấp cứu ban đầu của giáo viên một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Nam Định năm 2021<strong>. </strong></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng bộ câu hỏi điều tra trên 394 giáo viên tiểu học tại 10 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Nam Định.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình của kiến thức về sơ cấp cứu của giáo viên là 7,84 ± 5,113. Tỷ lệ giáo viên có kiến thức đạt là 130/394 chiếm 33% và 264/394 giáo viên chưa đạt kiến thức về sơ cấp cứu ban đầu chiếm 67%. Có sự liên quan giữa điểm kiến thức sơ cấp cứu với số năm công tác và tỉ lệ tham gia các khóa tập huấn sơ cấp cứu. Có 97,7% giáo viên có nhu cầu tham gia các lớp tập huấn về sơ cấp cứu ban đầu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Hầu hết các giáo viên tham gia nghiên cứu đều nhận thấy tầm quan trọng của sơ cấp cứu (96,4%). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thức về sơ cấp cứu của giáo viên chưa cao (kiến thức chưa đạt 67%), đa số giáo viên có nhu cầu được đào tạo về sơ cấp cứu (97,7%). Do đó các khóa đào tạo về sơ cấp cứu nên được tổ chức cho giáo viên bằng các buổi tập huấn lý thuyết và thực hành trực tiếp tại các trường tiểu học.</p> Thu Hiền Phạm Thị Thu Hương Phạm Văn Đẩu Vũ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-16 2022-05-16 5 02 104 114 10.54436/jns.2022.02.442 Đặc điểm lâm sàng và thực trạng chẩn đoán ung thư thanh quản tại một số bệnh viện ở Hà Nội hiện nay https://jns.vn/index.php/journal/article/view/445 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả đặc điểm lâm sàng và thực trạng chẩn đoán ung thư thanh quản tại một số bệnh viện ở Hà Nội.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Hồi cứu mô tả trên 828 người bệnh được chẩn đoán xác định bằng lâm sàng và giải phẫu bệnh là ung thư thanh quản được điều trị tại Bệnh viện Tai mũi họng trung ương, Bệnh viện K trung ương, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội từ 2014 đến 2019.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Triệu chứng cơ năng thường thấy nhất là khàn tiếng chiếm 96,1% ; người bệnh được phát hiện bệnh dưới 6 tháng kể từ khi có triệu chứng cơ năng đầu tiên là 84,7%; ung thư khởi đầu từ thanh môn chiếm tỷ lệ cao nhất 94,3%; Tổn thương ung thư khu trú ở 1 tầng thanh quản chiếm 53%, chủ yếu ở thanh môn (49,6%); người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn sớm T1, T2 với tỷ lệ 87,2%; Số người bệnh không có di căn hạch vùng chiếm tỷ lệ cao nhất 98,1%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu trên người bệnh ung thư thanh quản là khàn tiếng. Đa số người bệnh được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm và tỷ lệ di căn hạch thấp.</p> Thị Hòa Lê Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-17 2022-05-17 5 02 115 123 10.54436/jns.2022.02.445 Thay đổi thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ có con 6-24 tháng mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Bệnh viện Nhi Nam Định năm 2020 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/431 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá sự thay đổi thực hành của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ 6 - 24 tháng tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục sức khỏe.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> đối tượng nghiên cứu là 75 bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, thiết kế nghiên cứu can thiệp bán thực nghiệm.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình thực hành trước can thiệp là 5,8 ± 2,1 và sau can thiệp đã tăng lên thành 8,3 ± 1,9, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (t = 3,2; p &lt;0,05). %). Đã có sự thay đổi đáng kể trước và sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ đã tăng số lượng thức ăn 1 bữa cho trẻ (22,7% - 58,7% sau can thiệp) và thực hành cho trẻ ăn thêm hoa quả (38,7%-72), tuy nhiên can thiệp có hạn chế là mới chỉ cải thiện một phần nhỏ hoạt động cho trẻ ăn loãng hơn của bà mẹ (9,3%- 12%). Nghiên cứu đã cho thấy hiệu quả của can thiệp giáo dục sức khỏe đã cải thiện đáng kể thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ từ đó trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Sau khi can thiệp bằng giáo dục sức khỏe, thực hành chăm sóc dinh dưỡng của bà mẹ có con 6 - 24 tháng đã tăng lên, thực hành mức độ đạt tăng từ 57,3% trước can thiệp lên 80% sau can thiệp.</p> Thị Lý Nguyễn Thị Thu Huyền Đinh Thị Vân Lan Hoàng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-19 2022-05-19 5 02 124 132 10.54436/jns.2022.02.431 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/437 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng </strong><strong>và phương pháp nghiên </strong><strong>cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 53 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Điểm trung bình chất lượng cuộc sống SF36 là 31,45 ± 9,86. Điểm trung bình các vấn đề bệnh thận là 45,92 ± 7,98. Điểm chất lượng cuộc sống chung là 38,68 ± 7,57.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chất lượng cuộc sống của người bệnh trong phạm vi nghiên cứu tương đối thấp.</p> Thị Hân Đặng Văn Tuyền Trịnh Thị Tuyết Mai Đỗ Thị Lý Nguyễn Văn Cao Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-19 2022-05-19 5 02 133 143 10.54436/jns.2022.02.437 Thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy tim mạn được áp dụng phương pháp tập thở cơ hoành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/439 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn và đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống sau áp dụng phương pháp tập thở cơ hoành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu can thiệp một nhóm, có so sánh trước – sau trên 45 bệnh nhân suy tim mạn đang được quản lý và điều trị tại khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian từ tháng 10/2020 đến hết tháng 03/2021.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bệnh nhân có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình (40%), thấp (33,3%) và rất thấp (24,4%), mức cao chỉ đạt 2,2% và không có bệnh nhân đạt mức rất cao. Chất lượng cuộc sống của nữ có suy tim thấp hơn nam ở tất cả các khía cạnh. Ở tất cả các khía cạnh trong thang điểm EQ-5D-3L đều cho thấy có sự cải thiện chất lượng cuộc sống ở cả 2 thời điểm sau can thiệp 1 tháng và 3 tháng. Sau 1 tháng, chỉ có 1/5 khía cạnh (Sự đi lại) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, còn sau 3 tháng là 3/5 khía cạnh (Sự đi lại, tự chăm sóc và đau/khó chịu).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Chất lượng cuộc sống trong tất cả các khía cạnh của bệnh nhân suy tim mạn tính đều giảm. Sau tập thở cơ hoành, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tăng lên đáng kể theo thang điểm đánh giá CLCS EQ- 5D-5L. Bài tập có thể áp dụng vào thực hành lâm sàng ở những đơn vị có điều trị bệnh nhân suy tim mạn.</p> Thị Mai Liên Trần Văn Chiến Đỗ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-19 2022-05-19 5 02 144 154 10.54436/jns.2022.02.439 Kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/462 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân và xác định một số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thanh Nhàn năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 153 người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Thanh Nhàn- Hà Nội trong thời gian từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 10 năm 2021.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình kiến thức là 15,4 ± 3,83, trong đó người bệnh có mức độ kiến thức kém chiếm 15,0%, mức độ kiến thức trung bình chiếm 16,3% và mức độ kiến thức tốt chiếm 68,6%. Điểm trung bình thực hành chăm sóc bàn chân của người bệnh là 72,7 ± 12,2 với những người bệnh có điểm thực hành được loại ở mức kém chiếm 6,5%, trung bình chiếm 79,1%, và thực hành tốt/đúng chỉ chiếm 14,4%. Kết quả phân tích mối tương quan chỉ ra rằng kiến thức và thời gian phát hiện bệnh có mối tương quan với thực hành tự chăm sóc bàn chân với các giá trị tương ứng r=0,45 với p&lt;0,001 và r=-0,23 với p&lt;0,01.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu chỉ ra phần lớn người bệnh có kiến thức tốt về tự chăm sóc bàn chân, tuy nhiên về thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh chỉ được đánh giá ở mức trung bình chiếm phần lớn. Điều dưỡng có thể cung cấp các chương trình tư vấn giáo dục sức khoẻ dựa vào các yếu tố liên quan để nâng cao năng lực tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường.</p> Phương Anh Vũ Thị Nguyệt Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 2022-05-19 2022-05-19 5 02 155 168 10.54436/jns.2022.02.462