Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://jns.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 439/GP-BTTTT ngày 13/7/2021<br /></strong><strong>DOI: 10.54436/jns - ISSN: 2615-9589 - e_ISSN: 2734-9632<br /></strong><br />Thông tin về các hoạt động đào tạo, khoa học &amp; công nghệ thuộc lĩnh vực điều dưỡng; giới thiệu, đăng tải kết quả nghiên cứu khoa học; trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về điều dưỡng</p> vi-VN dmsinh@ndun.edu.vn (Đỗ Minh Sinh) nguyenthanhnd1990@gmail.com (Nguyễn Ngọc Thành) Sat, 27 Aug 2022 00:00:00 +0000 OJS 3.3.0.8 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Bìa và mục lục https://jns.vn/index.php/journal/article/view/517 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/517 Sat, 27 Aug 2022 00:00:00 +0000 Kiến thức và thái độ về người cao tuổi của sinh viên Khoa Điều dưỡng Trường Đại học Duy Tân https://jns.vn/index.php/journal/article/view/432 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả kiến thức, thái độ và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của sinh viên điều dưỡng đối với người cao tuổi.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đã được thực hiện với cỡ mẫu 229 sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Duy Tân.</p> <p><strong>Kết quả</strong><strong>:</strong> Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về người cao tuổi chưa đạt (Mean ± SD =26,87 ± 4,88), sinh viên có thái độ tích cực đối với người cao tuổi (Mean ± SD =125,41 ± 11,55). Những yếu tố liên quan đến kiến thức của sinh viên về người cao tuổi gồm: giới tính, năm học, sinh viên đã/đang sống với người cao tuổi, trải nghiệm chăm sóc người cao tuổi (p&lt;0,05). Những yếu tố liên quan đến thái độ của sinh viên đối với người cao tuổi bao gồm: năm học, đã/đang sống với người cao tuổi, muốn sống với bố mẹ/bố mẹ chồng trong tương lai, trải nghiệm chăm sóc cho người cao tuổi, mong muốn làm công việc chăm sóc người cao tuổi sau khi tốt nghiệp (p&lt;0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kiến thức của sinh viên điều dưỡng về người cao tuổi chưa đạt, sinh viên có thái độ tích cực đối với người cao tuổi. Cần có những can thiệp để cải thiện kiến thức của sinh viên điều dưỡng đối với người cao tuổi.</p> Thị Lan Vi Hồ, Thị Thảo Phạm, Thị Ngọc Bích Dương Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/432 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh lao điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Thái Bình sau giáo dục sức khoẻ https://jns.vn/index.php/journal/article/view/446 <p><strong>Mục tiêu:</strong> (1). Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh Lao điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình năm 2021; (2). Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh Lao điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình sau giáo dục sức khỏe.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khoẻ có so sánh trước – sau trên 115 người mắc bệnh lao điều trị ở giai đoạn củng cố đang được theo dõi và quản lý tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2021 bằng bộ công cụ chuẩn bị trước.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình kiến thức về bệnh của người bệnh tăng từ 8,8 ± 1,7 lên 12,5 ± 1,2; 12,1 ± 1,6 trên tổng điểm là 18. Điểm trung bình kiến thức về thuốc tăng từ 5,4 ± 1,6, 10,9 ± 1,08, 10,9 ± 1,6 trên tổng điểm 16. Điểm trung bình kiến thức về điều trị tăng 5,4 ± 1,6 lên 10,1 ± 0,8 và 7,1 ± 1,62 trên tổng điểm 12. Điểm trung bình về thực hành tự chăm sóc tăng từ 14,1 ± 1,3 lên 22,1 ± 1,3 và 19,4 ± 1,7 trên tổng điểm là 36 sau 1 và 2 tháng sau giáo dục sức khoẻ. Thay đổi điểm kiến thức, thực hành trước và sau giáo dục sức khỏe khác biệt có ý nghĩa thống kê với p &lt; 0,01.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Kiến thức về bệnh, sử dụng thuốc, điều trị và thực hành tự chăm sóc của người bệnh lao phổi còn hạn chế trước can thiệp giáo dục sức khỏe. Sau giáo dục sức khỏe các chỉ số trên được cải thiện rõ rệt; điều này cho thấy hiệu quả của can thiệp trong việc nâng cao kiến thức và thực hành cho người bệnh mắc lao phổi.</p> Thị Thắm Trương, Văn Thành Vũ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/446 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Kiến thức và thực hành về bệnh sán lá gan nhỏ của người dân tại xã Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, Nam Định https://jns.vn/index.php/journal/article/view/471 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả kiến thức, thực hành về bệnh sán lá gan nhỏ của người dân xã Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, Nam Định.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người dân tại địa điểm nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2020.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ người dân biết được nguyên nhân gây bệnh sán lá gan nhỏ chiếm 86,5%, tỷ lệ người dân trả lời đúng được vật chủ chính chiếm 53,5%, 61% người dân được hỏi biết 1 tác hại của bệnh, biết trên 2 tác hại chiếm 18,5%, trên 3 tác hại chiếm 20,5%. Tỷ lệ người dân đã từng ăn gỏi cá/cá chưa nấu chín chiếm 54%: trong đó 58,3% ăn trong vòng 3 tháng, 18,5% ăn từ hơn 1 năm trước,13% ăn trong vòng 6-12 tháng, 10,2% đã từng ăn trong vòng 6 tháng. 100% hộ gia đình đều sử dụng nhà vệ sinh tự hoại.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Người dân tại xã có kiến thức khá cao về bệnh sán lá gan nhỏ và tỷ lệ nhiễm trứng sán lá gan nhỏ chỉ 1,5% nhưng trên thực tế 54% người dân vẫn chưa bỏ được thói quen ăn gỏi cá/cá chưa chín.</p> Văn Thành Vũ, Thị Hòa Hoàng, Thị Thùy Dung Đỗ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/471 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Xác định thành phần loài nấm ở nữ bệnh nhân viêm sinh dục đến khám và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/470 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định tỷ lệ nhiễm, thành phần loài nấm ở nữ bệnh nhân viêm sinh dục đến khám và điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 500 nữ bệnh nhân viêm sinh dục tại Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 11/2019 đến 9/2020.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ nhiễm nấm Candida ở nữ bệnh nhân là 52,2%. Bằng phương pháp PCR- RFLP và giải trình tự gen xác định được 7 loài nấm Candida trong đó nhiễm nấm C.albican chiếm tỷ lệ cao nhất là 53,9%, các loài nấm non-C. albicans chiếm tỷ lệ 46,1%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Xác định có 7 loài nấm khác nhau ở đường sinh dục bệnh nhân viêm sinh dục đến khám và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 gồm: C. albicans, C. glabrata, C. tropicalis, C. krusei, C. parapsilosis, S. cerevisiae và loài C.nivariensis</p> Thị Thùy Dung Đỗ, Ngọc Ánh Đỗ, Thị Hòa Hoàng, Thị Hồng Yến Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/470 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/452 <p><strong>Mục tiêu</strong>: tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: thiết kế kết hợp định lượng và định tính được sử dụng để đạt mục tiêu nghiên cứu. Điều tra bằng bảng hỏi với 220 thai phụ và phỏng vấn sâu 22 thai phụ để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh càng thấp; những phụ nữ làm nông nghiệp hoặc lao động tự do nguy cơ thấp hơn nhóm làm công chức, viên chức; nhóm có trình độ học vấn cao có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Các yếu tố từ gia đình, văn hóa-xã hội và tiền sử sinh sản đều có liên quan đến nguy cơ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ trước phá thai.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: quá trình quyết định chấm dứt thai kỳ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người phụ nữ. Sự giúp đỡ, chia sẻ của gia đình và xã hội là những biện pháp trị liệu hiệu quả cho vấn đề sức khỏe này.</p> Thị Thu Phạm, Như Huyền Đỗ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/452 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Thay đổi tuân thủ quy trình đặt thông tiểu ngắt quãng sạch trong điều trị bàng quang thần kinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương sau tập huấn https://jns.vn/index.php/journal/article/view/443 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thay đổi tuân thủ quy trình đặt thông tiểu ngắt quãng sạch(CIC) của người chăm sóc chính cho trẻ em bị bệnh bàng quang thần kinh đến tái khám tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau trên 47 trẻ bị bệnh àng quang thần kinh đến tái khám và 47 người tham gia chính đặt thông tiểu cho trẻ tại Bệnh viện Nhi Trung ương được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2021.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trẻ được đặt CIC 3-4 lần/ngày lần chiếm tỷ lệ cao nhất (51,1%) tiếp theo là từ 5 lần trở lên (38,3%), thấp nhất là 1-2 lần chiếm tỷ lệ 10,6% trước tập huấn mức độ tuân thủ quy trình đặt CIC đạt mức tốt có tỷ lệ thấp (32%), nhiều người thực hiện chưa đúng hoặc chưa đủ các bước trong quy trình. Ngay sau tập huấn, tỷ lệ tuân thủ đạt mức tốt là 100%. Sau 3 tháng được tập huấn và thực hành tại nhà, tỷ lệ tuân thủ đạt mức tốt là 83%. Hầu hết các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng đã giảm rõ rệt sau khi được tập huấn và thực hành thông tiểu ngắt quãng sạch.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Mức độ tuân thủ quy trình đặt CIC cho trẻ sau tập huấn có thay đổi rõ rệt, tỷ lệ tuân thủ quy trình đạt mức tốt tăng lên tập huấn và thực hành tại nhà.Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng giảm rõ, trong đó 3 triệu chứng có sự khác biệt ý nghĩa thống kê p&lt;0,01: Trẻ bị táo bón, nước tiểu đục, kết quả xét nghiệm cấy nước tiểu có vi khuẩn. Do đó, cần đề xuất các biện pháp nâng cao mức độ tuân thủ đặt thông tiểu ngắt quãng sạch cho trẻ bị bệnh bàng quang thần kinh.</p> Ngọc Yến Trần, Thị Thơm Trịnh, Thu Hương Trịnh, Thị Mai Hương Vũ, Đức Trường Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/443 Fri, 24 Jun 2022 00:00:00 +0000 Thực trạng chăm sóc, theo dõi ống thông động mạch của điều dưỡng tại khoa hồi sức tích cực 2 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/402 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thực trạng chăm sóc, theo dõi ống thông động mạch của điều dưỡng tại khoa hồi sức tích cực 2- Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Mô tả biến chứng và một số yếu tố liên quan tới biến chứng trong quá trình lưu ống thông động mạch.</p> <p><strong>Thiết kế</strong><strong> nghiên cứu</strong><strong>:</strong> Mô tả cắt ngang.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> 99 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu với tuổi trung bình là 57,8 ± 17.2, nhỏ nhất là 14 tuổi. Vị trí động mạch quay được lựa chọn để đặt chiếm tỷ lệ cao nhất là 65.7%, thấp nhất là động mạch mu chân chiếm 1.01%. Thời gian lưu ống thông động mạch trung bình là 5,5 ngày.Các biến chứng trong quá trình chăm sóc và theo dõi là: chảy máu 12.3%, tắc kim tạm thời 23.2%, nhiễm trùng tại chỗ 5,1%, tụ máu 1%. Áp lực túi bóp và vị trí đặt ống thông động mạch có mối liên quan đến tình trạng tắc ống thông động mạch.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Các quy trình kỹ thuật chăm sóc quyết định hiệu quả tối ưu tuổi thọ ống thống, giảm thiểu các biến chứng liên quan đến ống thông động mạch. Vì vậy người điều dưỡng phải nắm vững quy trình kỹ thuật chăm sóc và theo dõi ống thông động mạch để đảm bảo an toàn, giúp cứu sống nhiều bệnh nhân.</p> Thị Ngọc Mai Dương, Thị Diên Khang Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/402 Tue, 26 Jul 2022 00:00:00 +0000 Thay đổi thực hành về phòng tái phát sỏi tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/496 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Mô tả thực trạng và đánh giá sự thay đổi thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020.</p> <p><strong>Đối tượng </strong><strong>và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu can thiệp giáo dục trên một nhóm có đánh giá trước và sau được tiến hành trên 60 người bệnh sỏi tiết niệu điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định từ 02/2020 đến 5/2020. Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn dựa trên nghiên cứu của Derek Bos năm 2014.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Điểm trung bình thực hành trong đánh giá trước can thiệp (T1) là 5,11 ± 1,57; trước khi người bệnh ra viện 1 ngày (T2) là 7,88 ± 1,29 và 1 tháng sau can thiệp (T3) là 7,33 ± 1,24 trên tổng 12 điểm của thang đo. Tăng điểm thực hành ở những lần đánh giá sau can thiệp so với điểm thực hành trước can thiệp có ý nghĩa thông kê với các giá trị p &lt; 0,01. Trước can thiệp, 43,3% người bệnh có thực hành đạt và tăng lên thành 86,7% và 73,3% trong 2 lần đánh giá sau can thiệp.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thực hành về phòng tái phát sỏi tiết niệu của 60 người bệnh tham gia nghiên cứu còn hạn chế trước can thiệp và đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục. Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của việc tư vấn, giáo dục sức khỏe trong dự phòng tái phát sỏi tiết niệu cho người bệnh</p> Thị Hằng Phạm Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/496 Tue, 26 Jul 2022 00:00:00 +0000 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi mắc tim bẩm sinh điều trị nội trú tại Bệnh viện Tim Hà Nội https://jns.vn/index.php/journal/article/view/503 <p><strong> <span class="fontstyle0">Mục tiêu</span></strong><span class="fontstyle2">: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh điều trị nội trú tại bệnh viện Tim Hà Nội. </span></p> <p><strong><span class="fontstyle0">Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </span></strong><span class="fontstyle2">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 trẻ dưới 5 tuổi mắc tim bẩm sinh điều trị nội trú tại địa điểm nghiên cứu từ tháng 12/2020 đến tháng 12/2021. </span></p> <p><strong><span class="fontstyle0">Kết quả</span></strong><span class="fontstyle2">: Tuổi thường gặp nhất trong nghiên cứu là &lt; 6 tháng tuổi (chiếm 42,9%). Tỷ lệ bệnh nhi nam là 48,6% và nữ là 51,4%. Tỷ lệ trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh: Thông liên nhĩ 5,7%, thông liên thất 45,7%, còn ống động mạch chủ 12,4%, hẹp động mạch phổi 7,6%, tứ chứng Fallot 17,1%, phối hợp nhiều dị tật 11,4%. 57/105 bệnh nhi có biểu hiện suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (chiếm 54,3%), 48/105 bệnh nhi suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiếm 45,7%) và suy dinh dưỡng thể gầy còm là 44/105 bệnh nhi (chiếm 41,9%). </span></p> <p><strong><span class="fontstyle0">Kết luận</span></strong><span class="fontstyle2">: Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhi: Suy dinh<br />dưỡng cấp chiếm 15,2%, suy dinh dưỡng mạn 22,9% và suy dinh dưỡng mạn tiến triển chiếm 16,2%.</span> </p> Thị Lê Thủy Nguyễn, Minh An Nguyễn, Văn Đẩu Vũ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/503 Mon, 29 Aug 2022 00:00:00 +0000 Đánh giá hiệu quả áp dụng quy trình phụ dụng cụ trong phẫu thuật tim bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương https://jns.vn/index.php/journal/article/view/506 <p><strong> <span class="fontstyle0">Mục tiêu: </span></strong><span class="fontstyle2">Đánh giá hiệu quả áp dụng quy trình phụ dụng cụ trong phẫu thuật tim bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương. </span></p> <p><span class="fontstyle0"><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: </span><span class="fontstyle2">Nghiên cứu<br />mô tả cắt ngang trên 100 trường hợp phẫu thuật đã được xây dựng quy trình và khảo sát 19 nhân viên y tế trực tiếp tham gia nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2022</span><span class="fontstyle3">. </span></p> <p><strong><span class="fontstyle0">Kết quả</span></strong><span class="fontstyle2">: Sau khi áp dụng thử nghiệm quy trình phụ dụng cụ, chỉ còn 25% phẫu thuật viên còn stress và chỉ còn ở mức độ thỉnh thoảng, còn lại 75% phẫu thuật viên không<br />còn stress về vấn đề liên quan đến dụng cụ trong quá trình phẫu thuật tim bẩm sinh. 27,3% dụng cụ viên còn stress về vấn đề liên quan đến dụng cụ trong quá trình phẫu thuật tim bẩm sinh, lý do do dụng cụ hỏng hoặc vật tư tiêu hao hết, không còn stress do quy trình phụ dụng cụ trong phẫu thuật. Tỷ lệ sai sót chuyên môn và bệnh nhân có tai biến liên quan đến dụng cụ trong phẫu thuật giảm so với khi chưa sử dụng quy trình. </span></p> <p><strong><span class="fontstyle0">Kết luận</span></strong><span class="fontstyle2">: Áp dụng quy trình phụ dụng cụ giúp cho phẫu thuật viên và điều dưỡng phụ dụng cụ giảm stress công việc và giảm tỷ lệ tai biến trong phẫu thuật đồng thời làm giảm thời gian phẫu thuật các ca bệnh</span> </p> Thị Thu Vũ, Lý Thịnh Trường Nguyễn, Lệ Quyên Mai, Thị Thùy Dung Đỗ, Thu Mùi Phạm, Văn Đẩu Vũ Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/506 Mon, 29 Aug 2022 00:00:00 +0000 Thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2021 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/420 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả thực trạng chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2021.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Mô tả cắt ngang, nghiên cứu hoạt động chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của 36 điều dưỡng viên với 10 người bệnh có nhiễm khuẩn vết mổ tại Khoa phẫu thuật Tiêu hóa và Khoa Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Xanh Pôn từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2021 bằng phương pháp quan sát trực tiếp hoạt động chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn của điều dưỡng bằng phiếu điều tra đã được thiết kế sẵn. Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ quy trình thay băng vết mổ nhiễm khuẩn, quy trình vệ sinh tay thường quy của Bộ Y Tế.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ thực hành đạt về chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn còn chưa cao với 43,5%. Tỷ lệ thực hành đạt quy trình vệ sinh tay thường quy chiếm 57,4%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Thực hành đạt về chăm sóc vết mổ nhiễm khuẩn còn chưa cao.</p> Trịnh Văn Thọ, Minh An Nguyễn, Thị Thu Huyền Đinh, Thị Lý Nguyễn, Ngọc Thành Nguyễn Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/420 Mon, 29 Aug 2022 00:00:00 +0000 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/494 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người bệnh tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2019.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành với cỡ mẫu 125 người bệnh tai biến mạch máu não từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 125 người bệnh tai biến mạch máu, BMI bình thường chiếm 80,0%, suy dinh dưỡng chiếm 16,8%, thừa cân - béo phì chiếm 3,2%. Nhóm độ tuổi ≥70 có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 2,8 lần so với nhóm &lt;70 tuổi (p &lt; 0,05). Người bệnh nhồi máu não có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 1,9 lần so với những người bệnh xuất huyết não (p &lt; 0,05). Người bệnh nuôi ăn qua sonde có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 1,6 lần so với nhóm người bệnh tự ăn được qua đường miệng và nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh tai biến mạch máu não cao. Có mối liên quan giữa tuổi, loại tai biến mạch máu não và đường nuôi dưỡng đến tình trạng dinh dưỡng. Người bệnh tai biến mạch máu não cần được đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngay sau khi nhập viện. Từ đó có định hướng, mục tiêu chăm sóc và cải thiện dinh dưỡng cho người bệnh.</p> Thanh Hà Lê, Nguyệt Thu Nghiêm, Văn Phú Phạm Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng https://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0 https://jns.vn/index.php/journal/article/view/494 Mon, 29 Aug 2022 00:00:00 +0000