Thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy tim mạn được áp dụng phương pháp tập thở cơ hoành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

TAY - TÂM - TRÍ - TỰ HÀO
PDF Download: 40 View: 66

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Trần, T. M. L., & Đỗ, V. C. (2022). Thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh suy tim mạn được áp dụng phương pháp tập thở cơ hoành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng, 5(02), 144–154. https://doi.org/10.54436/jns.2022.02.439

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim mạn và đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống sau áp dụng phương pháp tập thở cơ hoành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp một nhóm, có so sánh trước – sau trên 45 bệnh nhân suy tim mạn đang được quản lý và điều trị tại khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong thời gian từ tháng 10/2020 đến hết tháng 03/2021.

Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình (40%), thấp (33,3%) và rất thấp (24,4%), mức cao chỉ đạt 2,2% và không có bệnh nhân đạt mức rất cao. Chất lượng cuộc sống của nữ có suy tim thấp hơn nam ở tất cả các khía cạnh. Ở tất cả các khía cạnh trong thang điểm EQ-5D-3L đều cho thấy có sự cải thiện chất lượng cuộc sống ở cả 2 thời điểm sau can thiệp 1 tháng và 3 tháng. Sau 1 tháng, chỉ có 1/5 khía cạnh (Sự đi lại) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, còn sau 3 tháng là 3/5 khía cạnh (Sự đi lại, tự chăm sóc và đau/khó chịu).

Kết luận: Chất lượng cuộc sống trong tất cả các khía cạnh của bệnh nhân suy tim mạn tính đều giảm. Sau tập thở cơ hoành, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tăng lên đáng kể theo thang điểm đánh giá CLCS EQ- 5D-5L. Bài tập có thể áp dụng vào thực hành lâm sàng ở những đơn vị có điều trị bệnh nhân suy tim mạn.

https://doi.org/10.54436/jns.2022.02.439

Từ khóa

Chất lượng cuộc sống, suy tim mạn, phương pháp tập thở cơ hoành, Bệnh viện trung ương quân đội 108 Quality of life, chronic heart failure, diaphragmatic breathing, 108 Central Military Hospital
PDF Download: 40 View: 66

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Ngọc Huyền (2014), Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người già suy tim tại BV Đa khoa TW Thái Nguyên. TCTMHVN (Số 64): p. 26-33.

F. Rodríguez-Artalejo et al. (2006), Social network as a predictor of hospital readmission and mortality among older patients with heart failure, J. Card. Fail., vol. 12, no. 8, pp. 621–627, Oct. 2006, doi: 10.1016/j.cardfail.06.471.

Nguyễn Thị Mai Loan (2010), Nghiên cứu điều trị suy tim mạn tính tại viện tim mạch Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Hải Phòng.

Lawrence P Cahalin, R. A. Arena (2015), Breathing exercises and inspiratory muscle training in heart failure, Heart Fail. Clin., vol. 11, no. 1, pp. 149–172, Jan. 2015, doi: 10.1016/j.hfc.2014.09.002.

Đặng Ngọc Dung (1994), Nhận xét về sự thay đổi chức năng thông khí và các thành phần khí trong máu ở bệnh nhân viêm phế quản mãn tính trước và sau 1 tháng điều trị bằng tập thở cơ hoành có phối hợp vỗ rung và dẫn lưu tư thế, Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.

Vu Quynh Mai, Sun Sun, Hoang Van Minh , Nan Luo , Kim Bao Giang , Lars Lindholm , Klas Goran Sahlen. (2020). An EQ-5D-5L Value Set for Vietnam. Qual Life Res, 29(7), 1923–1933. doi: 10.1007/s11136-020-02469-7

Lê Ngọc Anh (2017), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy tim mạn tại Viện Tim mạch Việt Nam, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.

M. C. Zuluaga, P. Guallar-Castillón, (2009), Mechanisms of the association between depressive symptoms and long-term mortality in heart failure, Am. Heart J., vol. 159, no. 2, pp. 231–237, Feb. 2010, doi: 10.1016/j.ahj.2009.11.011.

R. S. Saccomann, F. A. Cintra, and B. J. Gallani (2007), Psychometric properties of the Minnesota Living with Heart Failure in the elderly, Qual. Life Res. Int. J. Qual. Life Asp. Treat. Care Rehabil., vol. 16, no. 6, pp. 997–1005, Aug. 2007, doi: 10.1007/s11136-007-9170-z.

Hobbs F.D.R., Davis R.C., Roalfe A.K. và cộng sự. (2002). Reliability of N-terminal pro-brain natriuretic peptide assay in diagnosis of heart failure: cohort study in representative and high risk community populations. BMJ, 324(7352), 1498. doi: 10.1136/bmj.324.7352.1498

K. I. Pettersen, A. Reikvam, A. Rollag, (2005), Reliability and validity of the Kansas City cardiomyopathy questionnaire in patients with previous myocardial infarction, Eur. J. Heart Fail., vol. 7, no. 2, pp. 235–242, Mar. 2005, doi: 10.1016/j.ejheart.2004.05.012.

Birks Emma.J. (2013). Molecular changes after left ventricular assist device support for heart failure. Circ Res, 113(6), 777–791. doi: 10.1161/CIRCRESAHA.113.301413

Iqbal J., Francis L., Reid J. và cộng sự. (2010). Quality of life in patients with chronic heart failure and their carers: a 3-year follow-up study assessing hospitalization and mortality. Eur J Heart Fail, 12(9), 1002–1008. doi: 10.1093/eurjhf/hfq114

Austin J., Williams W.R., Ross L. và cộng sự. (2008). Five-year follow-up findings from a randomized controlled trial of cardiac rehabilitation for heart failure. Eur J Cardiovasc Prev Rehabil Off J Eur Soc Cardiol Work Groups Epidemiol Prev Card Rehabil Exerc Physiol, 15(2), 162–167. doi: 10.1097/HJR.0b013e3282f10e87

Postmus D., van Veldhuisen D.J., Jaarsma T. và cộng sự. (2012). The COACH risk engine: a multistate model for predicting survival and hospitalization in patients with heart failure. Eur J Heart Fail, 14(2), 168–175. doi: 10.1093/eurjhf/hfr163

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại 4.0 International Giấy phép .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng