Thực trạng kiến thức sử dụng thuốc chống đông đường uống của người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

TAY - TÂM - TRÍ - TỰ HÀO
PDF Download: 38 View: 34

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Nguyễn, N. Q., & Đặng, V. Đức. (2022). Thực trạng kiến thức sử dụng thuốc chống đông đường uống của người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng, 5(04), 34–43. https://doi.org/10.54436/jns.2022.04.522

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng kiến thức sử dụng thuốc chống đông đường uống của người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 84 người bệnh được chẩn đoán rung nhĩ không do bệnh van tim được điều trị dự phòng huyết khối tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021. Kiến thức của người bệnh được đánh giá bằng bộ câu hỏi kiến thức về thuốc kháng đông đường uống của Obamiro, gồm 20 tiêu chí.

Kết quả: Trong 20 tiêu chí cứu được sử dụng để đánh giá kiến thức của người bệnh thì tiêu chí “phải uống thuốc một cách chính xác đúng như y lệnh của bác sĩ đã dặn dò” và tiêu chí “ba điều cần làm để giảm nguy cơ bị các tác dụng phụ của thuốc” có tỉ lệ nhận thức đúng rất thấp trong nghiên cứu (16,6% và 14,2%). Đánh giá thực trạng nhận thức đúng của người bệnh uống thuốc kháng Vitamin K: chỉ có 34,1% người bệnh biết được khoảng INR mục tiêu, các tiêu chí đánh giá nhận thức khác, kết quả cũng dao động từ 52% đến 88%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa hai nhóm dùng thuốc kháng vitamin K và nhóm NOACs.

Kết luận: Kiến thức đúng của người bệnh liên quan đến thuốc chống đông có kết quả trả lời đúng rất thấp; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức giữa hai nhóm.

https://doi.org/10.54436/jns.2022.04.522

Từ khóa

Kiến thức, thuốc chống đông đường uống, người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim Knowledge, oral anticoagulants, patients with non-valvular atrial fibrillation
PDF Download: 38 View: 34

Tài liệu tham khảo

Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2016), “Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị rung nhĩ”.

Iguchi Y., Kimura K., Aoki J., et al. (2008). Prevalence of atrial fibrillation in community-dwelling Japanese aged 40 years or older in Japan: analysis of 41,436 non-employee residents in Kurashiki-city. Circ J Off J Jpn Circ Soc, 72(6), 909–913. doi: 10.1253/circj.72.909.

Nguyễn Lân Việt (2014), “Thực hành bệnh tim mạch, Nhà xuất bản Y học.

Phạm Nguyễn Vinh (2013), “Sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim”, Tạp chí tim mạch học TP. Hồ Chí Minh, tr. 1 – 23.

Lê Diệu Hồng (2019), Nghiên cứu cứu xây dựng quy trình quản lý và điều trị dự phòng huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim sử dụng thuốc chống đông đường uống, Đề tài cấp Bộ Quốc Phòng, Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108.

Lê Thị Ngân Hà (2016), Khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống đông đường uống trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị ngoại trú tại bệnh viện tim Hà Nội, Khóa Luận tốt nghiệp Dược sĩ, Trường Đại học dược Hà Nội, Hà Nội.

Obamiro Kehinde O, Chalmers Leanne,Bereznicki Luke RE (2016), “Development and Validation of an Oral Anticoagulation Knowledge Tool (AKT)”, PloS one, 11 (6), pp.e0158071. doi: 10.1371/journal.pone.0158071

Desteghe L., et al. (2016), “Knowledge gaps in patients with atrial fibrillation revealed by a new validated knowledge questionnaire”, Int J Cardiol, 223,

pp.906-914. doi: 10.1016/j ijcard.2016.08.303

Hội Tim Mạch học Quốc gia Việt Nam (2016). Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị rung nhĩ.

Bùi Thúc Quang (2015), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, siêu âm tim và siêu âm tim qua thực quản ở bệnh nhân rung nhĩ mạn tính không do bệnh van tim”, Luận án tiến sĩ y học, Viện NCKH Y dược lâm sàng 108.

European Heart Rhythm Association, (2020), “Guidelines for Management of Atrial Fibrillation”, ESC Clinical Practice Guidelines Eur Heart J, 31(19), 2369–2429.

Đỗ Thị Lan (2018), Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc kháng đông đường uống thế hệ mới tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, Thesis, H. ĐHQGHN, Khoa Y - Dược.

Lee V Jahangir A, Friedman PA, et al (2007), “Long-term progression and outcomes with aging in patients with lone atrial fibrillation: a 30-year follow-up study”, Circulation;115:3050-3056. doi: 10.1161/CIRCULATIONAHA.106.644484

Desteghe L., et al. (2016), “Knowledge gaps in patients with atrial fibrillation

revealed by a new validated knowledge questionnaire”, Int J Cardiol, 223, pp.906-914. doi: 10.1016/j.ijcard.2016.08.303

Wang Y., et al. (2014), “Knowledge, satisfaction, and concerns regarding

warfarin therapy and their association with warfarin adherence and anticoagulation control”, Thromb Res, 133 (4), pp.550-4. doi: 10.1016/j.thromres.2014.01.002

Smith M. B., et al. (2010), “Warfarin knowledge in patients with atrial

fibrillation: implications for safety, efficacy, and education strategies”, Cardiology, 116 (1), pp.61-9. doi: 10.1159/000314936

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại 4.0 International Giấy phép .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng