Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả tình trạng nôn, buồn nôn và kết quả chăm sóc người bệnh ung thư điều trị hóa chất tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu dọc được thực hiện trên 120 người bệnh ung thư từ 18 tuổi trở lên, có chỉ định điều trị hóa chất, tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ tháng 01/2025 đến tháng 06/2025. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0.
Kết quả: Kết qua nghiên cứu cho thấy có 46,7% người bệnh có nôn và 100,0% có buồn nôn sau 1 giờ hoá trị; Sau 24 giờ, tỷ lệ người bệnh còn nôn giảm xuống 6,7% và còn buồn nôn là 69,2%. Về chăm sóc, 100% người bệnh được hỏi về tình trạng nôn, buồn nôn và được giải thích nguyên nhân; 99,2% được hướng dẫn biện pháp giảm triệu chứng và được hỗ trợ khi báo nôn, buồn nôn; 99,2% được sử dụng thuốc chống nôn. Sau chăm sóc, 99,2% người bệnh cho biết tình trạng buồn nôn được cải thiện và 96,7% cho biết tình trạng mệt mỏi tốt hơn.
Kết luận: Nôn và buồn nôn xuất hiện với tỷ lệ cao trong giai đoạn sớm sau hóa trị, đặc biệt là buồn nôn. Sau 24 giờ, tỷ lệ nôn và mức độ buồn nôn giảm so với thời điểm sau 1 giờ. Các hoạt động theo dõi, hướng dẫn và hỗ trợ người bệnh được thực hiện với tỷ lệ cao; phần lớn người bệnh ghi nhận cải thiện buồn nôn và mệt mỏi sau chăm sóc. Tuy nhiên, mất nước, tình trạng dinh dưỡng và giấc ngủ vẫn là những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm trong chăm sóc người bệnh ung thư điều trị hóa chất.
Từ khóa
Tài liệu tham khảo
Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu. Hà Nội: Bộ Y tế; 2020.
Alexander Molassiotis, Peter A. Coventry. Validation and Psychometric Assessment of a Short Clinical Scale to Measure Chemotherapy-Induced Nausea and Vomiting: The MASCC Antiemesis Tool. Journal of Pain and Symptom Management. Volume 34, Issue 2, August 2007, Pages 148-159. doi.org/10.1016/j.jpainsymman.2006.10.018
Lương Thị Mai Hương, Vũ Thị Thu, Phạm Thị Hương, Nguyễn Minh Ngọc, Lê Thị Thu Nga. Tình trạng buồn nôn và nôn do hóa trị. Tạp chí Y Dược Lâm sàng 108. 2020;15 (Đặc biệt 11).
Lương Thị Ngọc Hân, Hà Văn Phúc. Thực trạng chăm sóc bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất và yếu tố liên quan tại Khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2020-2021. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;526(1A):348-353.
Nguyễn Thị Ngọc, Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Diệu Tố. Khảo sát tác dụng phụ nôn và buồn nôn do hóa trị ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú tại Khoa Ung bướu - Bệnh viện Đà Nẵng. Tạp chí Ung thư học Việt Nam. 2024;(77):226-233. doi:10.70755/vnjo.2024.77.15.
Nguyen SM, Pham AT, Nguyen LM, Cai H, Tran TV, Shu XO, Tran HTT. Chemotherapy-induced toxicities and their associations with clinical and non-clinical factors among breast cancer patients in Vietnam. Curr Oncol. 2022;29(11):8269-8284. doi:10.3390/curroncol29110653.
Herrstedt J, Celio L, Hesketh PJ, et al. 2023 updated MASCC/ESMO consensus recommendations: prevention of nausea and vomiting following high-emetic-risk antineoplastic agents. Support Care Cancer. 2024;32(1):47. doi:10.1007/s00520-023-08221-4.
Mazzega-Fabbro C, Polesel J, Brusutti L, et al. A randomized clinical trial investigating an integrated nursing educational program to mitigate chemotherapy-induced nausea and vomiting in cancer patients: the NIV-EC trial. Cancers (Basel). 2023;15(21):5174. doi:10.3390/cancers15215174.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại 4.0 International Giấy phép . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng