Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên đối tượng khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart city

TAY - TÂM - TRÍ - TỰ HÀO
pdf Download: 108 View: 623

Ngôn ngữ sử dụng

Cách trích dẫn

Nguyễn, T. K., Nguyễn, T. L., & Đỗ, T. H. (2025). Thực trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên đối tượng khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart city. Tạp Chí Khoa học Điều dưỡng, 8(06), 146–154. https://doi.org/10.54436/jns.2025.06.1059

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu của khách hàng đến nội soi tiêu hóa gây mê tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City” và “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của nhóm đối tượng trên.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên khách hàng có chỉ định nội soi đường tiêu hóa gây mê từ tháng 4/2025 đến tháng 7/2025 tại Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Smart City. Mức độ lo âu được đánh giá bằng thang điểm STAI. Kết quả nghiên cứu sử dụng các phân tích mô tả, so sánh tỷ lệ (Chi bình phương và Fisher’s Exact test), các so sánh giá trị trung bình (tương quan Spearman’s rho).

Kết quả: Nghiên cứu trên 76 khách hàng, chủ yếu ở độ tuổi dưới 60 (77,6%), trong đó giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn (57,9%). 51,3% khách hàng đã từng nội soi tiêu hóa. Nguyên nhân phổ biến nhất khiến khách hàng lo âu khi nội soi là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi với tỷ lệ lần lượt là 78,9%, 73,7% và 68,4%. Nguyên nhân giúp khách hàng cảm thấy bớt lo âu khi nội soi phổ biến nhất là đã quen với các thăm dò y khoa và đã tiến hành nội soi trước đó với tỷ lệ lần lượt là 60,5% và 57,9%. Điểm STAI-S và STAI-T trung bình lần lượt là 39,4 ± 8,2 và 35,1 ± 5,1. Mức độ lo âu ở mức trung bình trở lên (STAI-S) chiếm đa số với tỷ lệ 52,6%. Ở thang STAI-T, lo âu ở mức độ cao chiếm tỷ lệ chỉ 3,9%, không lo âu hoặc lo âu mức độ ít chiếm đa số với 72,4%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa (p < 0,05).

Kết luận: Có tình trạng lo âu trước khi tiến hành thủ thuật nội soi tiêu hóa có gây mê. Các vấn đề lo lắng chủ yếu là chế độ ăn sau khi nội soi, thời gian trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường sau nội soi và các tai biến liên quan đến quá trình nội soi. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu gồm tiền sử từng nội soi tiêu hóa, người thân mắc bệnh tiêu hóa và số triệu chứng tiêu hóa.

https://doi.org/10.54436/jns.2025.06.1059

Từ khóa

Nội soi tiêu hóa, gây mê, lo âu, điểm STAI Gastrointestinal endoscopy, anesthesia, anxiety, STAI score
pdf Download: 108 View: 623

Tài liệu tham khảo

Jardim SR, de Souza LMP, de Souza HSP. The Rise of Gastrointestinal Cancers as a Global Phenomenon: Unhealthy Behavior or Progress? Int J Environ Res Public Health 2023; 18;20(4):3640. doi: 10.3390/ijerph20043640.

Ghanouni A, Plumb A, Hewitson P, Nickerson C, Rees CJ, von Wagner C. Patients’ experience of colonoscopy in the English Bowel Cancer Screening Programme. Endoscopy 2016;48(3):232-40. doi: 10.1055/s-0042-100613.

Ko CW, Riffle S, Shapiro JA, Saunders MD, Lee SD, Tung BY, et al. Incidence of minor complications and time lost from normal activities after screening or surveillance colonoscopy. Gastrointest Endosc 2007;65(4):648-56. doi: 10.1016/j.gie.2006.06.020.

Karpuzcu HC, Yarbaş G, Çatalbaş R, Atlı NA, Erdoğan Ç. The effect of pre-procedural anxiety level on the quality of upper GI endoscopy in non-sedated patients: “can the need for sedation be predicted?”. Therap Adv Gastroenterol 2025;18:17562848251333025. doi: 10.1177/17562848251333025.

Xiong Y, Yan H, Qu L, Wang S, Meng X, Zhu X, et al. Global Trends of Gastrointestinal Endoscopy Anesthesia/Sedation: A Bibliometric Study (from 2001 to 2022). J Pain Res 2023;16:2393-2406.doi: 10.2147/JPR.S408811.

ASGE Standards of Practice Committee. Guidelines for sedation and anesthesia in GI endoscopy. Gastrointest Endos 2018;87(2):327-337.

Trần Đình Thảo, Phạm Thị Thu Hường, Đào Việt Hằng. Thực trạng lo âu của cha mẹ bệnh nhi nội soi tiêu hóa gây mê và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam 2024;543(2):145-148. https://doi.org/10.51298/vmj.v543i2.11419.

Nguyễn Công Khanh. Tâm lý trị liệu. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; 2000.

Kayikcioglu O, Bilgin S, Seymenoglu G, Deveci A. State and Trait Anxiety Scores of Patients Receiving Intravitreal Injections. Biomed Hub 2017;2(2):1-5. doi: 10.1159/000478993.

Mitsonis C, Dimopoulos N, Zavrou M, Psarra V, Giofkos C, Fiorakis C, et al. Panic Attack during Elective Gastrointestinal Endoscopy. Gastroenterol Res Pract 2011;2011:162574. doi: 10.1155/2011/162574.

Behrouzian F, Sadrizadeh N, Nematpour S, Seyedian SS, Nassiryan M, Zadeh AJF. The Effect of Psychological Preparation on the Level of Anxiety before Upper Gastrointestinal Endoscopy. J Clin Diagn Res 2017;11(7):VC01-VC04. doi: 10.7860/JCDR/2017/24876.10270.

Sargin M, Uluer MS, Aydogan E, Hanedan B, Tepe Mİ, Eryılmaz MA, et al. Anxiety Levels in Patients Undergoing Sedation for Elective Upper Gastrointestinal Endoscopy and Colonoscopy. Med Arch 2016;70(2):112-5. doi: 10.5455/medarh.2016.70.112-115.

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại 4.0 International Giấy phép .

Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng